Xử trí ung thư thanh môn giai đoạn sớm

Quách Thanh Khánh, Nguyễn Chấn Hùng, Đặng Huy Quốc Thịnh,
Lâm Đức Hoàng, Phan Thế Sung, Huỳnh Chí Long, Nguyễn Châu Hiệu, Trần Nguyễn Khánh.

Đặt vấn đề

Ung thư thanh quản là loại ung thư thường gặp tại Châu Âu và Mỹ. Tại Châu Âu xuất độ mắc mới là 52.000 ca mỗi năm, tại Mỹ 9500 – 11000 ca mỗi năm.

Theo ghi nhận ung thư quần thể tại TPHCM năm 2003, ung thư thanh quản khá thường gặp và đứng hàng thứ 5 ở nam giới với xuất độ chuẩn theo tuổi là 3/100.000 dân.

Thanh quản có chức năng quan trọng trong hô hấp, nuốt và đặc biệt là chức năng phát âm, do vậy trong điều trị ung thư thanh quản ngoài vấn đề sống còn thì việc bảo tồn chức năng giọng nói đóng vai trò quan trọng.

Ung thư thanh quản giai đoạn tại chỗ, T1, T2 có thể trị khỏi 80 – 90%, trong khi gian đoạn trễ thường chỉ khoảng 60%. Theo các quan điểm điều trị bảo tồn thanh quản, ung thư thanh quản giai đoạn sớm có thể bảo tồn bằng nhiều phương pháp điều trị khác nhau như xạ trị, phẫu thuật nội soi, phẫu thuật nội soi bằng laser, C02, phẫu thuật mở… Tuy nhiên khuynh hướng hiện nay đối với ung thư thanh môn giai đoạn sớm lạ xạ trị hay phẫu thuật nội soi laser trước và nếu tái phát sẽ điều trị tiếp bằng phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn.

Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn trong ung thư thanh môn giai đoạn sớm, nhưng vẫn chưa có công trình đánh giá kết quả điều trị ung thư thanh môn giai đoạn sớm bằng xạ trị. Do vậy, chúng tôi thực hiện đề tài xạ trị ung thư thanh môn giai đoạn sớm nhằm mục tiêu đưa ra một số nhận định về kết quả xạ trị đồng thời đánh giá khả năng bảo tồn giọng nói của bệnh nhân.

Phương pháp

Qua theo dõi 31 trường hợp ung thư thanh môn giai đoạn sớm T1a, T1b được điều trị bằng xạ trị đơn thuấn tại BV Ung bướu TPHCM từ ngày 01/01/2005 đến 31/12/2007. Đánh giá kết quả điều trị qua Ctscan và nội soi, và sử dụng bảng câu hỏi để đánh giá phục hồi giọng nói sau xạ trị.

Kết quả

Tuổi trung bình của loạt nghiên cứu là 68 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 14/1. 87% bệnh nhân hút thuố lá và 100% trường hợp khởi phát bệnh với triệu chứng khàn tiếng. CTscan giúp đánh giá điều trị bướu tốt hơn nội soi đặc biệt khi bướu xâm lấn mép trước (45% so với 16%). 100% bệnh nhân có đáp ứng hoàn toàn sau xạ trị 6 tháng với biến chứng xạ trị không đáng kể. 93,5% bệnh nhân phục hồi giọng nói tốt và 97% bệnh nhân không thấy khó khăn khi giao tiếp hằng ngày hay qua điện thoại. Tất cả bệnh nhân đều cảm thấy hài lòng với giọng nói của mình sau xạ trị. Tỷ lệ sống còn chung 3 năm là 81%, sống còn đặc hiệu bệnh sau 3 năm là 87,5%.

Kết luận

Với kết quả nghiên cứu này, dù thời gian theo dõi đang ở năm thứ 3, chúng tôi cho rằng xạ trị đơn thuần là chọn lựa hiệu quả, hợp lý cho ung thư thanh môn T1a, T1b về mặt kiểm soát bệnh, biến chứng xạ trị thấp và bảo tồn giọng nói tốt đặc biệt cho những bệnh nhân có tuổi cao hoặc có kèm bệnh lý nội khoa.
Read more…

Bảo toàn thanh quản sau khi phẫu thuật ung thư

Tôi đã đọc bài “Những tiến bộ trong điều trị ung thư thanh quản”. Tôi muốn được hỏi nếu bị ung thư thanh quản giai đoạn 2 đã phẫu thuật bảo tồn thanh quản thì sau phẫu thuật giọng nói có biến đổi nhiều lắm không? Tôi thấy có một số người sau phẫu thuật giọng nói họ rất khó nghe chỉ nghe khào khào. Sau phẫu thuật trong bao lâu thì có thể có được giọng nói nghe được hay mãi mãi bị như thế. Xin các bác sĩ cho tôi biết vì thông tin về bệnh này rất ít .

Trả lời:

Ngay cả thương tổn như viêm, lệch, chùng,… của dây thanh âm ở thanh quản cũng đã làm thay đổi khá lớn về giọng nói rồi chứ chưa nói đến các phẫu thuật có xâm nhập (invasive surgery) sẽ chắc chắn làm thay đổi giọng nói nhiều, thậm chí là có thể gây mất giọng. Việc điều trị chỉnh nắn, thuốc và tập luyện chỉ phục hồi phần nào mà thôi; cái chính là kết quả sống thêm sau mổ, vì đối với ung thư thì mục đích chính là kéo dài thêm cuộc sống của người bệnh (survival time) nên có khi phải chấp nhận những hậu quả hoặc di chứng này.
Read more…

Phương pháp mới dùng laser điều trị ung thư thanh quản

Trong điều trị ung thư thanh quản, nếu dùng các phương pháp xạ trị và phẫu thuật thông thường, chất lượng giọng nói của bệnh nhân bị ảnh hưởng nặng nề.

Các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa Massachusetts đã áp dụng phương pháp mới sử dụng laser trên hơn 25 bệnh nhân.

Ông Steven Zeitels, giám đốc khoa Thanh quản, Bệnh viện đa khoa Massachusetts cho biết: Trước đây, chúng tôi đã dùng laser chiếu lên các mạch máu để chữa chứng loạn sản tế bào trong ung thư thanh quản giai đoạn đầu và nhiều dạng thương tổn mạch giai đoạn đầu.

Giờ đây, chúng tôi đã áp dụng kinh nghiệm này vào việc điều trị ung thư thanh quản, căn bệnh mỗi năm khoảng vài nghìn người ở Mỹ mắc phải.

Thoạt tiên, các nhà khoa học Bệnh viện đa khoa Massachusetts dùng laser để điều trị ung thư thanh quản giai đoạn đầu. Sau một vài ca điều trị thành công, họ chuyển sang dùng loại laser đặc biệt hơn: laser Kali- Titan- Phốt-phát (Potassium-Titanyl-Phosphate (KTP) laser- với độ chính xác cao, ít gây tổn hại cho các bộ phận vốn rất nhạy cảm của thanh quản.

Nhóm các nhà khoa học của Bệnh viện cho biết, 22 bệnh nhân đầu tiên được điều trị ung thư thanh quản bằng xung laser, 5 năm sau khi điều trị vẫn âm tính với căn bệnh này. Điều đáng nói là các bệnh nhân không hề phải cắt bỏ các bộ phận liên quan đến thanh quản hoặc bị đổi giọng nói; và cũng không bị chống chỉ định một số lựa chọn điều trị bệnh trong tương lai. Tiến sĩ Zeitels cho biết, phương pháp dùng laser chữa ung thư thanh quản đang dần được coi là một phương pháp chuẩn tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts và sẽ sớm được nhân rộng ra trên nước Mỹ cũng như nhiều nước khác. Ông dự tính, khoảng 90% bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu sẽ lựa chọn phương pháp điều trị KTP laser.
Read more…

Thuốc lá và sức khỏe

Ø Não: Máu của bạn có thể đặc lại hơn và hình thành những cục có thể gây nghẽn. Nếu máu cục lên não, nó có thể gây ra tai biến mạch máu não, hậu quả có thể là tàn phế, thậm chí tử vong.

Ø Mắt: Nếu bạn hút thuốc, bạn có thể bị đục nhân mắt (đục thủy tinh thể), hậu quả có thể là mù lòa.

Ø Họng: Hút thuốc không chỉ là nguyên nhân hàng đầu gây nên ung thư phổi mà còn làm tăng các nguy cơ dẫn đến ung thư miệng và vòm họng.

Ø Răng và hơi thở: Hút thuốc làm ố vàng, hay đen xỉn hàm răng. Hút thuốc làm hôi miệng.

Ø Thực quản: Nguy cơ bị ung thư thực quản ở người hút thuốc cao hơn từ 8-10 lần so với người không hút thuốc.

Ø Thanh quản: Hút thuốc gây nên 80% tổng số ca mắc ung thư thanh quản.

Ø Miệng: Hút thuốc là nguyên nhân gây ra ung thư lưỡi, miệng, tuyến nước bọt và vòm họng. Nguy cơ ung thư miệng của những người hút thuốc cao hơn những người không hút thuốc 27 lần.

Ø Thận và bàng quang: Khoảng 40-70% các ca ung thư thận và bàng quang có nguyên nhân liên quan tới thuốc lá.

Ø Tuyến tụy: Hút thuốc gây ra khoảng 30% số ca ung thư tuyến tụy.

Ø Tử cung: Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ ung thư tử cung cao hơn những người không hút thuốc.

Ø Dương vật: Hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư dương vật ở nam giới với mức độ ngày càng phổ biến hơn ở những người hút thuốc.

Ø Phổi: Hút thuốc tác động nhiều nhất đến phổi. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây nên 90% các ca ung thư phổi. Khi hút, nhựa thuốc lá sẽ bám vào phổi như bồ hóng bám vào ống khói. Nếu hút 20 điếu thuốc một ngày trong thời gian một năm sẽ tương đương với việc đưa vào cơ thể 210g nhựa (tương đương với 1 chén nhựa). Mức độ nguy cơ ung thư phổi tăng lên cùng với số năm hút thuốc lá.

Ø Tim: Nicotine trong thuốc lá làm tim đập nhanh hơn, làm tăng huyết áp, dẫn tới nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Ø Vú: Hút thuốc không chỉ là nguyên nhân chủ yếu của ung thư phổi mà còn liên quan tới ung thư vú. Càng hút thuốc nhiều nguy cơ ung thư càng cao.

Ø Chân: Hút thuốc gây ra tình trạng vón cục máu, làm tăng nguy cơ hoại tử, dẫn tới tàn phế, thậm chí phải cắt bỏ bằng phẫu thuật.
Read more…

Ăn uống và bệnh ung thư

Ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu đối với con người. Môi trường bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên và do chính con người gây ra: các tia tử ngoại từ ánh sáng mặt trời, các chất thải công nghiệp, các loại hoá chất bảo vệ thực vật được sử dụng bừa bãi tồn đọng trong đất, nước, nhiễm vào thực phẩm, các chất hoá học cho thêm vào thực phẩm với những mục đích khác nhau...đều có thể gây hại và là những tác nhân gây bệnh ung thư cho con người.

Tác hại của hút thuốc lá đối với cơ thể thì đã quá rõ ràng. Có tới hơn 20 bộ phận cơ thể bị ung thư do ảnh hưởng của hút thuốc lá. Điển hình là ung thư thanh quản, ung thư vòm họng, thực quản, phế quản, phổi ở người hút thuốc lá thường xuyên. Uống nhiều rượu bia là một trong những nguyên nhân gây ung thư dạ dày, đại tràng và trực tràng. Tại Zambia, ung thư thực quản chiếm tới 25% tỷ lệ tử vong do ung thư và người ta đã nhận thấy có sự liên quan giữa hiện tượng này với công nghệ chế biến bia từ nguyên liệu là ngô của họ.

Còn ở Mỹ, người ta thấy rằng uống quá nhiều rượu có mối liên hệ với ung thư khoang miệng, thanh quản và thực quản. Thuốc lá và rượu có khả năng cộng hưởng trong việc gây bệnh ung thư. Nếu vừa nghiện rượu vừa hút thuốc lá thì khả năng bị ung thư vòm họng tăng từ 2 đến 5 lần so với chỉ uống rượu hoặc chỉ hút thuốc lá. Người ta cũng thấy rằng nếu nam giới không uống rượu và không hút thuốc lá thì khả năng bị ung thư giảm đi 76%. Phụ nữ hút thuốc lá tỷ lệ ung thư vú cũng rất cao.

Ung thư vú còn liên quan tới một chế độ ăn nhiều chất béo, nhất là ở phụ nữ tuổi mãn kinh. Do ăn nhiều chất béo dẫn tới béo phì, lượng Estrogen trong cơ thể tăng lên làm cho nguy cơ bị ung thư vú ở những phụ nữ béo tăng lên. Nhiều công trình nghiên cứu cũng cho thấy người có tuổi càng lớn thì nguy cơ bị ung thư càng cao.

Do khả năng miễn dịch của cơ thể giảm sút, do rối loạn nội tiết, do kích tố trong cơ thể mất cân bằng và do người già phải chịu sự tác động của các yếu tố môi trường độc hại nhiều hơn, dài hơn. Người ta thấy rằng từ 20 đến 60 tuổi, cứ mỗi 10 tuổi tăng lên thì tỷ lệ ung thư tăng lên 2,7 lần và cứ 2 người mắc bệnh ung thư có một người ở tuổi 65 trở lên.

Tiểu ban nghiên cứu về ung thư của Tổ chức Y tế thế giới đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân của bệnh ung thư là do lối sống của chính chúng ta gây ra. Những thói quen như hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ăn nhiều thịt, ăn ít rau, ăn nhiều mỡ và thích ăn các món thịt nướng, thịt hun khói, thường xuyên ăn các món xào, rán và nhất là dầu, mỡ dùng rán đi rán lại nhiều lần là những nguy cơ cao đối với các loại bệnh ung thư đường tiêu hoá. Các thực phẩm được chế biến công nghiệp, đóng gói sẵn, các loại thức ăn chứa nhiều chất béo, nhất là các loại bánh như bánh chả, bánh quy...nếu để lâu ngày chất béo bị ôxy hoá rất dễ gây ngộ độc bởi chất perocyt. Các loại thức ăn bị nấm mốc như lạc mốc, đậu đỗ mốc, tương bị nhiễm mốc, hạt bí, hạt dưa rang sẵn bị mốc... nếu ăn vào dễ bị nhiễm nấm Asp.Flavus có chứa aflatoxin gây ung thư gan. Do đó không nên ăn những loại thức ăn này khi đã bị hư hỏng. Nếu như thức ăn bị nhiễm hoá chất độc hoặc do chế biến lâu gây cháy, sinh ra các chất độc gây nên bệnh ung thư thì cũng có thể tránh được bệnh ung thư bằng một chế độ ăn uống thích hợp.

Một số thành phần thức ăn có khả năng làm giảm nguy cơ gây bệnh như Lycopen, Vitamin E, C... Chất Lycopen có trong quả cà chua là một trong những hợp chất chống ôxy hoá rất có hiệu quả, có tính chất gần giống như bêta caroten, vitamin C và vitamin E có nhiều trong các loại rau quả tươi. Do đó, ăn nhiều cà chua có tác dụng hạn chế ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới, ngoài ra nó cũng có tác dụng tương tự đối với một số loại ung thư khác nữa. Các loại thực phẩm và rau quả có chứa nhiều vitamin C, A, E đều có tác dụng phòng và chống ung thư do khả năng chống ôxy hoá cao của nó. Chất xơ, ngoài tác dụng “kéo” cholesterol ra khỏi cơ thể, nó còn có tác dụng chống táo bón, hạn chế được ung thư đại tràng. Mỗi người một ngày nên ăn từ 400-500g rau xanh các loại, đây là một khối lượng không nhiều nhưng không phải ai cũng đã ăn đủ.

Sau cùng là nên chọn những cách chế biến đơn giản như ninh, luộc, hấp, kho. Chọn thực phẩm tươi sống có chất lượng tốt, rửa sạch truớc khi nấu. Thực hiện một lối sống lành mạnh, ăn uống hợp vệ sinh, hoạt động thể lực thường xuyên và hợp lý là những yếu tố tích cực để phòng và chống lại những nguyên nhân gây bệnh cho cơ thể.
Read more…

Viêm dây thanh quản có dẫn đến ung thư ko?

Viêm dây thanh quản có dẫn đến ung thư ko?

--------tra loi-----------
Thời tiết chuyển mùa là điều kiện thuận lợi cho rất nhiều bệnh lây qua đường hô hấp, đặc biệt là viêm dây thanh quản. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời dễ dẫn tới ung thư phải cắt toàn bộ thanh quản.

Ung thư thanh quản là bệnh thường gặp và đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta. Hiện bệnh chiếm khoảng 2% tổng số các loại ung thư. Bệnh hay gặp ở nam giới, chiếm trên 90%, trong đó ở độ tuổi từ: 50-70 chiếm 72%. Vì vậy, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, cần khám xem có phải ung thư thanh quản không...

Ô nhiễm môi trường gây bệnh


Môi trường ô nhiễm quá lớn khiến trung bình một người dân thành phố hít khoảng 10.000 vi sinh vật mỗi ngày. Khi cơ thể yếu, là lúc các vi khuẩn tấn công làm ta bị viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm nhiễm các đường hô hấp trên và dưới với các biểu hiện khản tiếng, có khi mất hẳn tiếng. Những người thường xuyên hút thuốc hoặc uống rượu nhiều, sau đó bị cảm, dẫn đến viêm thanh quản. Nếu có bội nhiễm nặng, thanh quản càng phù nề, gây khó nuốt, nuốt đau, khó thở... Soi thì thấy dây thanh quản sưng to, phù nề hoặc có u.
Khi bị viêm mũi, viêm xoang, khản tiếng, khó nuốt... tốt nhất nên đi khám chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời

PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên viện trưởng Viện Tai Mũi Họng TW cảnh báo, 100% bệnh nhân bị bệnh ở thanh quản đều có tiền sử viêm xoang. Hơn nữa, thanh quản là nơi dễ bị bệnh như khi ta nói nhiều (nhất là những người hay phải sử dụng giọng như ca sĩ, giáo viên, người bán hàng) khiến các sợi dây li ti của cơ đứt tạo thành các hạt sùi dây thanh; hoặc các chất dịch tiết, do viêm mũi viêm xoang... chảy xuống họng bám vào dâu thanh gây viêm, sùi...

Bình thường nếu được điều trị kịp thời làm xuất hiện khí rung hoặc bấm các cục sùi... bệnh nhân khỏi bệnh sau 3-10 ngày. Nhưng nếu không được điều trị đúng, viêm nhiễm ngày càng phát triển, bệnh tái đi tái lại và biến thành u. Biểu hiện của bệnh là khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng, khó thở tăng dần, kèm theo có ho kích thích, ho ra đờm có mùi hôi. Đến giai đoạn muộn xuất hiện ho khạc đờm nhày lẫn máu, đau vùng cổ, nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở thì gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, toàn thân bị suy yếu.

Phát hiện sớm có thể chữa khỏi

Biểu hiện ở giai đoạn đầu thì u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thức một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ. Điều trị thường phải phẫu thuật cắt bỏ thanh quản toàn phần hoặc một phần khiến cho bệnh nhân trở thành câm. Nếu ung thư thanh quản không được điều trị, bệnh nhân thường chỉ sống kéo dài được một năm hoặc 18 tháng, tử vong do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt. Tuy nhiên, nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có thể chữa khỏi 80%.

TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh khuyên, khi bị viêm mũi, viêm xoang, khản tiếng, khó nuốt... tốt nhất nên đi khám chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời. Để phòng bệnh tốt nhất không nên hút thuốc, uống nhiều rượu, tránh các yếu tố kích thích: Sự thay đổi của khí hậu, tiếp xúc với hóa chất, với các chất khí, bụi bẩn... Đặc biệt, cần vệ sinh răng miệng cẩn thận và tránh viêm thanh quản mạn tính (tiền đề của một ung thư hóa), nhiễm khuẩn vùng răng miệng, viêm mũi họng dai dẳng, thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin...
Read more…

Ung thư họng vì 'quan hệ' đường miệng

Ung thư họng vì 'quan hệ' đường miệng 
Sex đường miệng là một nguy cơ lớn gây ung thư miệng (họng). Ảnh: ABC.
Teresa Dillon từng kinh ngạc 4 năm trước khi biết rằng cơn đau họng mà cô tưởng là bình thường hóa ra là ung thư amidan ở giai đoạn 2.


"Mọi người thường hình dung khuôn mặt của người bị ung thư họng là một người đàn ông 70 tuổi, hút thuốc lá hoặc nốc rượu whiskey suốt cuột đời. Nhưng giờ đây đó là một khuôn mặt khác - khuôn mặt của tôi, một phụ nữ trẻ, khỏe mạnh, không hút thuốc lá".

Nhưng điều khiến nữ nhân viên phục vụ bàn này ngạc nhiên hơn là virus HPV - thủ phạm của bệnh - lại thường lây truyền qua sex.

Dillion chỉ là một phần trong xu hướng mới đang khiến các nhà khoa học bối rối. Trong khi hầu hết những người nhiễm HPV tự làm sạch được virus này, thì lại có sự gia tăng đáng báo động các ca ung thư miệng do nó gây ra.

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Johns Hopkins thông báo hồi tháng 2 vừa qua rằng từ giữa năm 1973 đến 2004, tác động của HPV - liên quan đến những ca ung thư họng ở nhóm người trong độ tuổi 40 - đã tăng gần như gấp đôi. Ngày nay, hơn 34.000 người đang phải đối mặt với căn bệnh này và 39% trong số họ có dính dáng đến HPV, Hội Ung thư Mỹ cho biết.

"Những bệnh nhân này còn trẻ. Họ đều ở độ tuổi 30 hoặc 40. Họ không hút thuốc, và không uống rượu thái quá. Và bất cứ khi nào tìm kiếm, chúng tôi đều có thể tìm thấy HPV-16 trong mô của họ, trong mẫu sinh thiết", tiến sĩ Robert Haddad, bác sĩ phẫu thuật đầu và cổ từ Viện Ung thư Dana Farber, cho biết.

Dòng virus HPV nguy hiểm này gây ung thư bằng cách sử dụng các protein đặc biệt để phá hủy những tế bào khỏe mạnh. Nó khiến cho tế bào không thể tự sửa chữa mình và không thể kiểm soát quá trình nhân bản.

Virus này lây truyền theo đường tiếp xúc trực tiếp. Bạn chỉ có thể nhiễm HPV tại vị trí tiếp xúc, vì nó không bao giờ đi theo mạch máu.

Vì thế, cách nó thâm nhập vào miệng có thể khiến người ta hoảng sợ. "Có mối liên hệ tuyệt đối giữa sex đường miệng và ung thư họng", Ellen Rome, từ Bệnh viện Cleveland cho biết.

Và mặc dù chưa có bằng chứng nào, thì theo các nhà khoa học, vẫn có khả năng HPV có thể được truyền từ miệng sang miệng. Một khi virus này đã yên vị ở đó, bạn không thể loại bỏ nó đi. Cách duy nhất để diệt virus này là dùng thuốc điều trị tích cực.

Cũng theo nghiên cứu nói trên, đàn ông có nguy cơ mắc bệnh ung thư miệng liên quan đến HPV cao hơn 35% so với phụ nữ. Tuy nhiên, cả hai giới đều nhạy cảm với virus này. Nguy cơ cao nhất là với người có nhiều bạn tình. Với gay, càng có nhiều bạn tình, nguy cơ càng cao.
Read more…

Tình trạng ung thư thanh quản đang có chiều hướng trẻ hóa

Phát biểu tại Hội nghị khoa học An toàn bệnh nhân – ứng dụng kỹ thuật mới, BS Trần Minh Trường, Phó Giám đốc BV Chợ Rẫy cho biết tình trạng ung thư thanh quản đang có chiều hướng trẻ hóa.

Nghiên cứu tại BV Chợ Rẫy cho thấy gần đây người mắc ung thư thanh quản từ 40 - 60 tuổi chiếm đến 64%. Nghiên cứu cũng cho thấy có đến 86% bệnh nhân bị ung thư thanh quản phát hiện rất trễ.
Read more…

Khàn tiếng - Dấu hiệu của ung thư thanh quản


Khàn tiếng - Dấu hiệu của ung thư thanh quản  

Khàn tiếng có khi chỉ là biểu hiện viêm dây thanh bình thường nhưng đôi khi lại là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư thanh quản.


Bệnh nhân 20 tuổi (xin giấu tên) ở Hà Đông, Hà Nội vào khám tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện đa khoa Hồng Hà, Hà Nội với triệu chứng khàn tiếng kéo dài. Bệnh nhân khám tai mũi họng xong rồi về vì nghĩ là bệnh mũi họng bình thường. Mấy ngày sau, các bác sĩ làm xét nghiệm tế bào mới phát hiện bị ung thư thanh quản và phải gọi điện cho bệnh nhân lên làm phẫu thuật nạo hạch và chạy tia xạ.

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Dinh, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện đa khoa Hồng Hà, ung thư thanh quản chiếm 2% tổng số các bệnh ung thư.

Cho đến nay vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính gây bệnh, tuy nhiên có một số yếu tố liên quan như hút thuốc lá, uống nhiều rượu, môi trường ô nhiễm, tiếp xúc với hóa chất, đã bị tia xạ vùng trước cổ, viêm thanh quản mạn tính, nhiễm khuẩn vùng răng miệng, viêm mũi họng không được điều trị triệt để...

Các u lành tính của thanh quản cũng dễ ung thư hóa, nhất là loại u nhú thanh quản ở người lớn chiếm một tỷ lệ khá cao.

Biểu hiện ban đầu thường là khàn tiếng, ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc rồi mất tiếng, có khó thở tăng dần kèm theo khó phát âm.

Điều trị nội khoa không đỡ, cứ tăng dần tới mức độ nói rất khàn, nói mệt và kèm theo các dấu hiệu ho kích thích, ho ra đờm có mùi rất hôi.

Triệu chứng đau chỉ xuất hiện khi khối u đã lan rộng, nhất là khi khối u đã loét. Đau thường lan lên tai và nhói lúc nuốt. Đến giai đoạn muộn thì ho khạc ra đờm nhày lẫn máu, đau vùng cổ, nuốt khó và sặc thức ăn.

Ung thư thanh quản nếu được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời có thể khỏi bệnh với tỷ lệ cao, khoảng 80%. Hơn nữa đây là loại ung thư ít có di căn xa như các loại ung thư khác, vì vậy nhiều người coi đây là loại ung thư lành tính.

Để điều trị ung thư thanh quản, thường phải cắt bỏ khối u, đồng thời tiến hành nạo vét hạch cổ, sau đó tia xạ và hóa chất. Sau điều trị, bệnh nhân có thể được tiến hành phẫu thuật phục hồi giọng nói. Vì vậy khi có các triệu chứng khàn tiếng kéo dài, cần đi khám chuyên khoa tai mũi họng để được phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.

Khàn tiếng nhiều khi chỉ là viêm, xùi hoặc u nhú ở dây thanh. Gần như 100% bệnh nhân bị bệnh ở dây thanh đều bị viêm xoang, khiến mủ trong xoang chảy theo chiều thẳng đứng xuống dưới, đọng ở họng gây viêm.

U dây thanh thường hay gặp ở những người phải sử dụng đến giọng nói nhiều (ca sĩ, giáo viên, phát thanh viên…) dây thanh hoạt động với cường độ cao khiến các sợi cơ li ti bị đứt gây nên những hạt xơ.

Với những trường hợp này chỉ cần bấm các u sùi là tiếng lại trong ngay. Còn nếu có viêm nhiễm, phải điều trị kháng sinh và khí dung trong khoảng 7-10 ngày.

Để phòng bệnh, không nên uống rượu, hút thuốc lá, nếu làm việc trong môi trường ô nhiễm cần sử dụng các biện pháp bảo hộ an toàn, khi bị các bệnh vùng tai mũi họng phải đi khám và điều trị triệt để.
Read more…

Khàn tiếng kéo dài – dấu hiệu ung thư thanh quản

Khàn tiếng (hay khản tiếng) là một biểu hiện rối loạn giọng nói thường gặp, phản ánh tình trạng tổn thương ở thanh quản, từ sưng huyết, viêm nhiễm thông thường cho đến các rối loạn thường xảy ra hoặc tổn thương nặng như ung thư thanh quản.

Khàn tiếng trong ung thư thanh quản xuất hiện khá sớm, lúc đầu còn nhẹ, chỉ giống như khản giọng khi bị cúm. Tình trạng khản giọng ngày càng tăng, các thuốc điều trị viêm thanh quản ít có tác dụng. Giai đoạn sau, tiếng nói trở nên thô ráp, khàn đặc, mất hết âm sắc, khó nói, nói đau, lúc này khối u ở thanh quản đã tiến triển.

Do vậy, nếu khàn tiếng mà không khỏi, kéo dài trên 3 tuần, cần phải đi khám ở chuyên khoa tai mũi họng. Khám thanh quản có thể tiến hành bằng cách soi gián tiếp thanh quản qua một gương soi nhỏ đưa vào họng, hoặc khám thanh quản bằng ống nội soi cứng hoặc ống nội soi mềm, bác sĩ sẽ đánh giá cẩn thận các tổn thương ở dây thanh của thanh quản.

Trong trường hợp khám phát hiện dây thanh quản bị dày, sần sùi hoặc có những mảng trắng trên dây thanh mà trong chuyên khoa gọi là bạch sản, khi đó bác sĩ sẽ phải tiến hành một bước nữa trong chẩn đoán là sinh thiết dây thanh. Kết quả này sẽ trả lời chính xác bệnh nhân có bị ung thư hay không.

Đa số ung thư thanh quản xảy ra ở nam giới, trong độ tuổi 40 – 60, thường là những người hút thuốc lá nhiều, nhất là kèm theo uống rượu. Tuy nhiên, cần nói thêm, có nhiều nguyên nhân khác gây khàn tiếng kéo dài như viêm thanh quản mãn tính do thanh quản bị kích thích trường diễn như phải nói nhiều, hát quá nhiều và quá sức ở những người chuyên nghiệp về giọng (ca sĩ, giáo viên), hoặc những người mắc bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản…, hoặc do mắc phải các bệnh viêm không điển hình ở thanh quản như bệnh nấm thanh quản, lao thanh quản…

Cũng như các bệnh ung thư khác, phát hiện ung thư thanh quản ở giai đoạn sớm sẽ góp phần rất lớn vào kết quả điều trị. Đối với ung thư thanh quản, việc phát hiện sớm bệnh lại càng có giá trị hơn vì thanh quản là bộ phận phát âm tạo ra tiếng nói, giúp con người có thể giao tiếp với nhau.

Bệnh nhân được điều trị càng sớm, bác sĩ sẽ có cơ hội bảo vệ nhiều hơn cấu trúc của thanh quản và chức năng phát âm càng được bảo tồn nhiều hơn. Với phương tiện y học ngày nay, chúng ta có thể phát hiện ung thư thanh quản giai đoạn rất sớm như các tổn thương tiền ung thư, ung thư chưa xâm nhập. Điều trị chỉ cần can thiệp stripping cắt lớp niêm mạc dây thần kinh bị bệnh hoặc sử dụng laser vi phẫu thuật, bệnh nhân vẫn giữ được giọng nói bình thường.

Nhưng rất tiếc, có tới 2/3 số lượng người bệnh khi đến điều trị ở Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương đã ở vào giai đoạn III và IV, tức là bệnh ở vào giai đoạn muộn và rất muộn, khối u đã lan rộng toàn bộ thanh quản, hoặc đã ra ngoài vùng thanh quản. Trong các trường hợp này thì sẽ phải thực hiện cắt bỏ toàn bộ thanh quản và người bệnh sẽ mất đi bộ phận phát âm, trở nên tàn tật về giọng nói.

Vì vậy, khi bị khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần cần đi khám, kiểm tra ở các bệnh viện chuyên khoa tai mũi họng vì khàn tiếng có thể là một dấu hiệu sớm của ung thư thanh quản.
Read more…

Nhận biết sớm bệnh ung thư thanh quản

Ông Nguyễn Văn Dũng (53 tuổi, quận Hồng Bàng, Hải Phòng) bị ung thư thanh quản – có tiền sử trào ngược thực quản – dạ dày. Phát hiện bệnh sau khi khàn tiếng kèo dài khoảng năm tháng, ông vẫn may mắn được cắt bán phần thanh quản nên ngày 30-5,

sau khi được phẫu thuật khoảng hơn một tuần, ông đã nói được bình thường, dù giọng bị trầm đi nhiều – ảnh: N.Hà Theo bác sĩ Lê Xuân Cành, phó giám đốc Bệnh viện Tai – mũi – họng trung ương, ung thư thanh quản đang có xu hướng tăng nhanh. Bệnh nguy hiểm nhưng người bệnh hoàn toàn có thể giữ được sinh mạng và cả giọng nói nếu phát hiện sớm.
Khối ung thư thanh quản

Giọng khàn, khó thở: đến bác sĩ ngay

Dấu hiệu đầu tiên nhận biết bệnh là khàn tiếng tăng dần, dùng các thuốc điều trị viêm thanh quản không đỡ. Khi khối u to, dây thanh bị cố định, tiếng nói trở nên khàn đặc, câu nói ngắn, mất hết âm sắc, nghe khó hiểu.

Bệnh nhân bắt đầu khó thở, lúc đầu biểu hiện này chỉ xuất hiện khi người bệnh làm việc gắng sức (lên cầu thang, khiêng vật nặng), về sau khó thở tăng dần và liên tục, có lúc cơn co thắt làm nghẹt thở, tưởng như sắp chết.

Các bác sĩ khuyến cáo, nếu khàn tiếng kéo dài quá hai tuần, đặc biệt ở lứa tuổi trung niên, đã dùng thuốc kháng viêm không khỏi thì cần đến chuyên khoa tai – mũi – họng ngay. Những bệnh nhân bị u nhú thanh quản, bạch sản thanh quản phải kiểm tra sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm những trường hợp bệnh có thể chuyển thành ung thư thanh quản.

Không được phát hiện kịp, không điều trị, bệnh sẽ gây tử vong nhanh (trong vòng 1-3 năm) vì bị suy kiệt hay nghẹt thở, chảy máu (do ung thư di căn vào phổi, xương, gan). Phát hiện bệnh muộn (khoảng hơn 10 năm trước, đây là hiện tượng phổ biến) khi khối u đã lan tỏa, chèn ép cổ họng rất rõ ràng, bệnh nhân sẽ phải nạo vét hạch toàn bộ, cắt bỏ thanh quản dẫn đến hậu quả vĩnh viễn không còn phát âm được. Hiện nay, phát hiện sớm, bệnh nhân chỉ phải cắt một dây thanh một bên hoặc cắt một nửa thanh quản nên vẫn có thể thở và nói chuyện được, mặc dù đa số tiếng bị trầm đi, khó nghe hơn.
Trào ngược thực quản – dạ dày cũng gây bệnh?

Bác sĩ Cành cho hay có một mẫu số chung trong nhiều trường hợp ung thư thực quản là bệnh nhân thường có tiền sử trào ngược thực quản – dạ dày (hay còn gọi là hiện tượng ợ chua). Trong quá trình điều trị, các bác sĩ đã phát hiện ra mối liên hệ bất ngờ này.

Ung thư thanh quản có thể là kết quả của tình trạng viêm thanh quản mãn tính. Mặt khác, viêm thanh quản mãn tính là hệ lụy của khối nguyên nhân: do viêm nhiễm, do hút phải chất độc (khói thuốc, khói xe…). Trào ngược dạ dày – thực quản sẽ sinh ra viêm nhiễm rất rõ ràng. Khi ăn xong, cơ ở tâm vị co thắt chặt lại, thức ăn bị đẩy ngược lên, dịch dạ dày trào lên thực quản. Kèm theo đó, axit trong dịch dạ dày tác động mạnh lên niêm mạc thanh quản, vốn không có bộ phận để bảo vệ khỏi tác động của loại axit này. Kết quả là người bệnh dễ bị viêm phế quản kéo dài, viêm họng, viêm thanh quản. Kéo dài tình trạng này, tổ chức xơ sẽ hình thành, bệnh nhân bị chít hẹp đường thở gây khó thở tăng dần.

Bác sĩ Cành cho biết hiện tượng trào ngược dạ dày – thực quản gây viêm thanh quản, làm sưng, nóng, đỏ, đau vùng thanh quản và có kèm theo biểu hiện sốt. Ở trẻ em, viêm thanh quản còn gây khó thở dữ dội, có thể dẫn đến tử vong.

Lời khuyên của bác sĩ đối với bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản là phải điều trị bệnh lý dạ dày dứt điểm, tránh gây viêm nhiễm bất thường ở vùng mũi – họng. Khi có biểu hiện ợ chua, cần điều chỉnh thói quen ăn uống, ăn xong không được nằm ngay, kiêng hoàn toàn các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, cà phê… Để ngăn ngừa căn bệnh này, ý thức chủ động của mỗi người đóng vai trò quan trọng.
Read more…

Các triệu chứng ung thư cổ họng

Ung thư là một bệnh đe dọa cuộc sống có ảnh hưởng đến đơn vị cơ bản của cơ thể, các tế bào. Ung thư xảy ra khi các tế bào bất thường bắt đầu phân chia và hình thành các tế bào hơn mà không kiểm soát hoặc đặt hàng. Có thể có hơn 100 loại bệnh ung thư trong cơ thể con người.


Theo thể loại bệnh ung thư cổ họng được liệt kê các bệnh ung thư dây thanh âm, ung thư thanh quản và ung thư của lươi ở khí quản. Nó đã được thấy rằng người đàn ông đang có hơn 10 lần dễ bị phát triển ung thư cổ họng hơn so với phụ nữ, đặc biệt là sau tuổi 50. Số người indulging trong sử dụng quá nhiều thuốc lá và rượu có nguy cơ cao phát triển ung thư cổ họng. Nghiên cứu gần đây đã tăng liên kết giữa nhiễm virus có thể do virus papilloma con người và ung thư miệng và cổ họng. Ngoài ra, những người tiếp xúc với sương axit sulfuric, niken hoặc amiăng ở nơi làm việc có nguy cơ càng lớn của các hợp đồng bệnh. Tuy nhiên, trong 25 phần trăm các trường hợp, ung thư họng không được liên kết với bất kỳ yếu tố nguy cơ đã biết.

Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ họng phụ thuộc chủ yếu vào vị trí và kích cỡ của khối u. Hầu hết các bệnh ung thư miệng phát sinh trên môi, lưỡi hoặc trên sàn miệng. Họ cũng có thể xảy ra bên trong má, trên nướu hoặc trên vòm miệng. Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ họng thường nhầm lẫn với điều kiện ít nghiêm trọng. Một dấu hiệu sớm của bệnh ung thư miệng và cổ họng được đánh dấu bằng một hoặc nhiều thay đổi trong cách các mô mềm của miệng thường nhìn hoặc cảm thấy.

Một số dấu hiệu chính của bệnh ác tính là chữa ho mất tiếng hoặc thay đổi bất thường khác trong giọng nói rằng vẫn tiếp tục cho tuần; ho đòi hỏi đôi khi kèm theo máu; một đau họng mà vẫn còn ngay cả sau khi khóa học chính quy của thuốc kháng sinh; xoang mà bị chặn và sẽ không rõ ràng ; xuất hiện của một mảng màu trắng hay màu đỏ trên nướu răng, lưỡi hoặc lớp lót trong miệng; dày của má; hơi thở hôi theo bất thường cao thượng thở âm thanh; đau hay một lần trên môi, trong miệng hoặc cổ họng mà không lành trong một thời gian dài; đau liên tục hoặc tê trong miệng mà không có bất kỳ lý do hợp lệ; gặp khó khăn trong nhai hoặc nuốt; đau xung quanh răng; gặp khó khăn trong việc di chuyển các hàm do đau hoặc sưng; rắc rối trong hơi thở và nói; một thời gian dài đau ở tai; thường xuyên đau đầu, đau hoặc sưng ở cổ và mất mát vô ý của trọng lượng.

Ngày xác của bất kỳ các triệu chứng, một chuyến viếng thăm bác sĩ là phải. Chẩn đoán này dựa trên một loạt các xét nghiệm khác nhau, từ một đến một laryngoscopy CT sọ hoặc MRI quét. Sinh thiết cũng có thể được tiến hành để phân tích các mô liên quan. Điều trị là nhằm phá hủy các tế bào ung thư và hơn nữa công tác phòng chống các bệnh ung thư lan sang các mô lân cận hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Nếu khối u đang ở trong giai đoạn đầu, phẫu thuật hay trị liệu bức xạ có thể được sử dụng để gỡ bỏ nó. Tuy nhiên, nếu khối u đã mở rộng tới các hạch bạch huyết ở cổ, một điều trị tích cực hơn của bức xạ và hóa trị thường là cần thiết. Trong một số trường hợp, Chords giọng hát phải được loại bỏ hoàn toàn. Tiếng nói là phục hồi do cấy của Chords nhân tạo thanh nhạc.

Các khách hàng tiềm năng của hồi phục trong bệnh ung thư họng là phần lớn chịu ảnh hưởng của chẩn đoán sớm. Hầu hết các trường hợp ung thư cổ họng đáng chú ý là chỉ trong giai đoạn tiên tiến như rất khó để đo sơ bộ các triệu chứng của căn bệnh. Một khi các bệnh ác tính lây lan đến các hạch bạch huyết, các bệnh ung thư có thể trở thành incurable. Do đó, nó được khuyến khích để tránh các yếu tố nguy cơ của một lối sống và thận trọng hướng tới các chỉ dẫn.
Read more…

Viêm dây thanh quản dễ dẫn tới ung thư

Khi bị viêm mũi, viêm xoang, khản tiếng, khó nuốt... tốt nhất nên đi khám chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời

Thời tiết chuyển mùa là điều kiện thuận lợi cho rất nhiều bệnh lây qua đường hô hấp, đặc biệt là viêm dây thanh quản. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời dễ dẫn tới ung thư phải cắt toàn bộ thanh quản.

Ung thư thanh quản là bệnh thường gặp và đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta. Hiện bệnh chiếm khoảng 2% tổng số các loại ung thư. Bệnh hay gặp ở nam giới, chiếm trên 90%, trong đó ở độ tuổi từ: 50-70 chiếm 72%. Vì vậy, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, cần khám xem có phải ung thư thanh quản không...

Ô nhiễm môi trường gây bệnh

Môi trường ô nhiễm quá lớn khiến trung bình một người dân thành phố hít khoảng 10.000 vi sinh vật mỗi ngày. Khi cơ thể yếu, là lúc các vi khuẩn tấn công làm ta bị viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm nhiễm các đường hô hấp trên và dưới với các biểu hiện khản tiếng, có khi mất hẳn tiếng. Những người thường xuyên hút thuốc hoặc uống rượu nhiều, sau đó bị cảm, dẫn đến viêm thanh quản. Nếu có bội nhiễm nặng, thanh quản càng phù nề, gây khó nuốt, nuốt đau, khó thở... Soi thì thấy dây thanh quản sưng to, phù nề hoặc có u.

PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên viện trưởng Viện Tai Mũi Họng TW cảnh báo, 100% bệnh nhân bị bệnh ở thanh quản đều có tiền sử viêm xoang. Hơn nữa, thanh quản là nơi dễ bị bệnh như khi ta nói nhiều (nhất là những người hay phải sử dụng giọng như ca sĩ, giáo viên, người bán hàng) khiến các sợi dây li ti của cơ đứt tạo thành các hạt sùi dây thanh; hoặc các chất dịch tiết, do viêm mũi viêm xoang... chảy xuống họng bám vào dâu thanh gây viêm, sùi...

Bình thường nếu được điều trị kịp thời làm xuất hiện khí rung hoặc bấm các cục sùi... bệnh nhân khỏi bệnh sau 3-10 ngày. Nhưng nếu không được điều trị đúng, viêm nhiễm ngày càng phát triển, bệnh tái đi tái lại và biến thành u. Biểu hiện của bệnh là khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng, khó thở tăng dần, kèm theo có ho kích thích, ho ra đờm có mùi hôi. Đến giai đoạn muộn xuất hiện ho khạc đờm nhày lẫn máu, đau vùng cổ, nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở thì gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, toàn thân bị suy yếu.
Bệnh về đường hô hấp không nên coi thường  

Phát hiện sớm có thể chữa khỏi

Biểu hiện ở giai đoạn đầu thì u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thức một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ. Điều trị thường phải phẫu thuật cắt bỏ thanh quản toàn phần hoặc một phần khiến cho bệnh nhân trở thành câm. Nếu ung thư thanh quản không được điều trị, bệnh nhân thường chỉ sống kéo dài được một năm hoặc 18 tháng, tử vong do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt. Tuy nhiên, nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có thể chữa khỏi 80%. TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh khuyên, khi bị viêm mũi, viêm xoang, khản tiếng, khó nuốt... tốt nhất nên đi khám chuyên khoa để phát hiện và điều trị kịp thời. Để phòng bệnh tốt nhất không nên hút thuốc, uống nhiều rượu, tránh các yếu tố kích thích: Sự thay đổi của khí hậu, tiếp xúc với hóa chất, với các chất khí, bụi bẩn... Đặc biệt, cần vệ sinh răng miệng cẩn thận và tránh viêm thanh quản mạn tính (tiền đề của một ung thư hóa), nhiễm khuẩn vùng răng miệng, viêm mũi họng dai dẳng, thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin...
Read more…

Ăn hành ngừa ung thư

Không chỉ đơn thuần là đồ gia vị cho các món ăn thêm phần thơm ngon và đẹp mắt, hành còn là loại thực phẩm có tác dụng đặc biệt trong việc chống lại bệnh tật, đặc biệt là các bệnh ung thư

Các nhà khoa học Ý và Thụy Sĩ đã tiến hành nghiên cứu về tác dụng của cây hành đối với sức khoẻ cơ thể dựa trên việc theo dõi phản ứng của cơ thể khi cho hơn 2/3 số người dân sống ở phía bắc 2 nước này sử dụng hành thường xuyên trong các bữa ăn hàng ngày trong vòng 5 năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng loại thực phẩm này trong việc chế biến các món ăn giúp làm giảm đáng kể số lượng người mắc các căn bệnh nguy hiểm, trong đó có cả bệnh ung thư. Tỉ lệ giảm tương ứng là : ung thư vòm họng giảm 84%, ung thư ống thực quản giảm 88% và ung thư thanh quản giảm tới 83%.

Ngoài ra phụ nữ dùng hành thường xuyên trong các món ăn sẽ làm giảm 25% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và 56% nguy cơ mắc các bệnh về đường ruột.

Thành phần dinh dưỡng tự nhiên có trong hành lá và hành củ cũng giống với tỏi, giúp tăng cường sức đề kháng, giầu các axít amin chống lão hoá tế bào. Chất kháng sinh allicin có trong hành có công dụng diệt khuẩn, sát trùng, ngăn ngừa quá trình hình thành và phát triển của các tế bào ung thư trong cơ thể.
Read more…

95% người mắc ung thư phổi do thuốc lá gây ra

Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là nước đang phát triển có mức rủi ro về bệnh tật và tử vong do thuốc lá cao. Nguyên nhân là do Việt Nam vẫn nằm trong số 15 nước có tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao nhất thế giới. Trung bình cứ 2 nam giới người Việt thì có một người hút thuốc lá.

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết, hút thuốc lá là nguyên nhân của 95% các ca ung thư phổi, 75% các ca bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hơn 25% các ca bệnh tim thiếu máu cực bộ.

Thuốc lá - nguyên nhân hàng đầu gây tử vong

Thuốc lá là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong trên thế giới. Theo những nghiên cứu gần đây cho thấy, những người hút thuốc lá có thể mắc phải 25 loại bệnh khác nhau như ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim mạch...

Ngoài ra, những người không hút thuốc nhưng hít phải khói thuốc của người khác cũng có nguy cơ mắc nhiều bệnh nghiêm trọng đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em.

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hằng năm trên thế giới có 5,4 triệu người chết do hút thuốc chủ động và khoảng 600.000 người chết do hút thuốc thụ động.

Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có khoảng 40.000 người tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá – gấp 3 lần số người chết vì tai nạn giao thông.

WHO dự báo nếu Việt Nam không có các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá mạnh và hiệu quả thì đến năm 2030 số ca tử vong hằng năm do cách bệnh liên quan đến thuốc lá sẽ tăng đến 70.000 người.

Để giảm thiểu tác hại của việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá tới sức khỏe, kinh tế, xã hội và môi trường, ngày 14/8/2000, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP, phê duyệt chính sách quốc gia về Phòng chống tác hại thuốc lá 2000-2010.

Nghị định giúp định hướng toàn diện cho Chương trình Phòng chống tác hại thuốc là Quốc gia trong 10 năm qua nhằm giảm nhu cầu sử dụng, tiến tới kiểm soát và giảm thiểu mức cung cấp các sản phẩm thuốc lá, giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá.

10 năm - Những thành tựu và khó khăn

Tại Hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP tổ chức ngày 27/5, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu khẳng định hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá tại Việt Nam bước đầu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Tỷ lệ người sử dụng thuốc lá trong nam giới đã giảm từ 56% năm 2001 xuống còn 47% năm 2010 và nữ giới đã giảm từ 1,8% xuống còn 1,4%.

Bên cạnh đó, việc thực hiện môi trường không khói thuốc đã có những tiến bộ hơn so với 10 năm trước, hành vi hút thuốc không còn được nhiều người chấp nhận như trước kia.

Việt Nam đã có quy định cấm quảng cáo và khuyến mại thuốc lá dưới mọi hình thức. Quy định cấm quảng cáo sản phẩm thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng đã được thực hiện...

Biểu dương những kết quả của ngành đã đạt được, tại hội nghị, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng đã chỉ ra những điểm còn tồn tại về công tác phòng chống tác hại của thuốc lá mà Bộ Y tế cần khắc phục như việc cần phải có những kết quả đánh giá hằng năm để đưa ra các giải pháp điều chỉnh kịp thời.

Việc in cảnh báo về tác hại của thuốc lá trên bao bì sản phẩm thuốc lá mới chỉ in cảnh báo sức khỏe bằng chữ chiếm diện tích rất nhỏ của bao thuốc mà chưa có tác động mạnh mẽ bằng hình ảnh.

Nhiều đại diện các bộ ngành cũng đưa ra ý kiến cho rằng việc hỗ trợ cai nghiện bằng thuốc lá mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng mô hình thí điểm và xây dựng tài liệu hướng dẫn mà chưa có điều kiện triển khai rộng. Quy định cấm bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi chưa thực hiện được, công tác chống buôn lậu thuốc lá còn gặp nhiều khó khăn...

Ngoài ra, mức thuế thuốc lá ở Việt Nam hiệm chiếm 45% giá bán lẻ, mức thuế này thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 65-85% do Ngân hàng Thế giới khuyến cáo và so với mức thuế đã đạt được ở các nước có chính sách kiểm soát hiệu quả.
Read more…

Cách phát hiện sớm ung thư thanh quản

Vị trí thanh quản ở phía trước cổ, nằm trên khí quản, kích thước khoảng 5cm x 5cm. Thanh quản có vai trò trong việc thở, nuốt và nói. Khi bị ung thư ảnh hưởng đến chức năng thở, nuốt và nói của thanh quản.

Thanh quản có 3 phần chính: phía trên là tầng thượng thanh môn; thanh môn nằm ở giữa, dây thanh âm nằm ở vùng thanh môn; hạ thanh môn nằm ở dưới và nối liền với đường dẫn khí. Hầu hết các ung thư thường bắt đầu từ thanh môn. Thành trong của hạ họng được lát bởi các tế bào vẩy, phần lớn các ung thư bắt đầu từ những tế bào này được gọi là ung thư biểu mô tế bào vẩy. Khi các tế bào ung thư di căn, thường xâm lấn đến hạch bạch huyết lân cận ở vùng cổ, đến mặt sau của lưỡi, thành phần khác của họng và cổ, đến phổi và các bộ phận khác của cơ thể. Khối u mới cũng có cùng một loại tế bào như khối u nguyên phát ở thanh quản nên được gọi là ung thư di căn của thanh quản.

Các yếu tố nguy cơ


Ung thư thanh quản 

Những nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố nguy cơ có khả năng gây ung thư thanh quản như sau: ung thư thanh quản thường gặp ở những bệnh nhân trên 55 tuổi; nam giới bị ung thư thanh quản cao gấp 4 lần nữ giới; những người hút thuốc lá có nguy cơ cao hơn rất nhiều so với người không hút. Người uống rượu sẽ có nguy cơ cao hơn so với người không uống rượu; uống càng nhiều nguy cơ càng cao; vừa uống rượu vừa hút thuốc càng dễ mắc bệnh; khoảng 1/4 bệnh nhân bị ung thư vùng đầu, mặt cổ sẽ bị mắc ung thư thứ hai cũng tại vùng đầu, mặt, cổ; người tiếp xúc với acid sulfuric, niken, amiăng; nhiễm một số loại virut; chế độ ăn thiếu vitamin A; bệnh trào ngược dạ dày thực quản... đều có nguy cơ ung thư thanh quản.

Biểu hiện lâm sàng

Tùy theo vị trí và kích thước của khối u mà ung thư thanh quản biểu hiện bằng các triệu chứng khá phong phú: khối u ở cổ; nói khàn hoặc thay đổi giọng nói; đau họng hay có cảm giác nghẹn cổ họng; ho kéo dài; khó thở, thở kém; đau tai; gầy sút cân, kém ăn, kém ngủ; triệu chứng xét nghiệm: soi thanh quản trực tiếp thấy khối u; chụp cắt lớp vi tính: có thể nhìn rõ các khối u vùng thanh quản hoặc khối u đã di căn đến các vị trí khác ở cổ; xét nghiệm tế bào để xác định khối u là ung thư thanh quản.

Các biện pháp điều trị


Ung thư thanh quản có thể điều trị bằng xạ trị, phẫu thuật hoặc hóa chất đơn thuần hay kết hợp.

Xạ trị là biện pháp sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Tia X tác dụng vào khối u và tổ chức xung quanh, nó chỉ ảnh hưởng tới các tế bào trong trường chiếu. Một đợt điều trị liên tục 5 ngày/một tuần kéo dài từ 5-8 tuần. Tùy từng trường hợp có thể điều trị bằng xạ trị đơn thuần hay kết hợp phẫu thuật hoặc hóa chất.

Đối với các khối u nhỏ hoặc các bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật thì dùng xạ trị đơn thuần. Xạ trị kết hợp phẫu thuật là dùng xạ trị để cô lập khối u trước phẫu thuật hoặc tiêu diệt tế bào ung thư còn sót sau phẫu thuật, khối u tái phát sau phẫu thuật cũng thường được điều trị tia xạ. Xạ trị kết hợp hóa chất thì xạ trị có thể điều trị trước, trong hoặc sau khi điều trị hóa chất.

Điều trị phẫu thuật là biện pháp sử dụng tia laser nhằm cắt bỏ khối u. Cách phẫu thuật chủ yếu dựa vào kích thước và vị trí khối u mà thực hiện: cắt toàn bộ thanh quản; cắt một phần thanh quản; cắt thanh quản trên thanh môn; đôi khi phẫu thuật phải cắt bỏ cả những khối hạch vùng cổ, gọi là nạo vét hạch. Nhiều trường hợp phải cắt bỏ cả tuyến giáp. Phẫu thuật ung thư thanh quản, thường phải mở khí quản, ống mở khí quản là một đường dẫn khí mới đi qua một lỗ mở ở phía trước cổ; không khí hít vào và thở ra sẽ đi qua lỗ mở này. Đối với một số bệnh nhân, lỗ mở khí quản chỉ là tạm thời, chỉ cần thiết cho tới khi bệnh nhân phục hồi sau phẫu thuật. Nhưng đôi khi sau phẫu thuật, một số bệnh nhân cần một ống nuôi dưỡng tạm thời. Nhiều bệnh nhân thanh quản không bị cắt bỏ và giọng nói vẫn được giữ nguyên.

Hóa trị liệu ung thư là việc sử dụng các thuốc diệt tế bào ung thư. Bệnh nhân có thể được sử dụng một hoặc nhiều loại thuốc kết hợp. Các thuốc được sử dụng trong ung thư thanh quản thường dùng đường tiêm tĩnh mạch. Tùy mục đích điều trị có thể dùng thuốc trước phẫu thuật hay trước khi xạ trị; trong một vài trường hợp, các thuốc được dùng với mục đích làm lỏng các khối u kích thước lớn trước phẫu thuật hoặc xạ trị; thuốc dùng sau phẫu thuật và xạ trị với mục đích để tiêu diệt nốt các tế bào ung thư còn sót lại, hoặc triệt tiêu các khối u đã lan tràn di căn đi các nơi khác; thuốc được sử dụng để điều trị thay thế phẫu thuật: hóa chất có thể được sử dụng cùng với xạ trị để diệt tổ chức ung thư, thay thế phẫu thuật.

ThS. Nguyễn Hữu Định
Read more…

Dấu hiệu sớm của ung thư mũi xoang

Dấu hiệu sớm của ung thư mũi xoang 
 Các khối u mũi và xoang là các khối u có thể lành tính hoặc ác tính (ung thư) xảy ra trong mũi xoang. Ung thư ở khoang mũi hoặc các khối u ở xoang rất hiếm gặp.

Ung thư thanh quản là loại ung thư hay gặp ở Việt Nam.Hầu hết các loại khối u mũi xoang (60 - 70%) xảy ra trong các xoang hàm trên, chỉ có khoảng 20 - 30% trong khoang mũi và từ 10 - 15% trong các xoang sàng. Ung thư trong các xoang bướm hoặc trán là cực kỳ hiếm, chỉ chiếm 5%.Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnhNam giới có nhiều khả năng bị ung thư xoang hơn phụ nữ. Độ tuổi phổ biến nhất để chẩn đoán tình trạng này là 50 và 60. Hút thuốc lá và khói thuốc lá là một yếu tố nguy cơ lớn nhất gây ung thư mũi xoang, cũng giống như các ung thư khác của đường hô hấp. Tiếp xúc với bụi từ da, gỗ hoặc vải dệt, cũng như hơi formaldehyde, dung môi, niken, crôm, cồn và radium làm tăng nguy cơ ung thư mũi xoang. Tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, đặc biệt là tránh hút thuốc lá có thể làm giảm nguy cơ ung thư mũi xoang.Các loại ung thư mũi xoang Một số loại ung thư khác nhau có thể xảy ra trong khoang mũi hoặc xoang, bao gồm:Ung thư tế bào vảy (phổ biến nhất, khoảng 70% ung thư xoang) xảy ra trong đường hô hấp. Ung thư tuyến (khoảng 10 - 20%) xảy ra ở lớp niêm mạc xoang. U lympho (khoảng 5% bệnh ung thư) gây ra bởi các tế bào trong hệ miễn dịch hay bạch huyết.Khối u ác tính (khoảng 3%) phát sinh từ các tế bào ở niêm mạc xoang có chứa sắc tố và rất ác tính. U nguyên bào thần kinh khứu giác phát triển từ các dây thần kinh, nơi thần kinh đi vào khoang mũi và cung cấp cảm giác về mùi.Nhiễm virut HPV có thể gây ra u nhú, giống như mụn cóc tăng trưởng trong mũi xoang, hầu hết là lành tính nhưng có khoảng 10% tiến triển thành ung thư.Dấu hiệu của bệnhMặc dù đôi khi ung thư mũi xoang không có triệu chứng, nhưng các triệu chứng kéo dài sau đây có thể là dấu hiệu ung thư, bao gồm: nghẹt mũi liên tục, đặc biệt là ở một bên; đau ở trán, mũi, má hoặc xung quanh mắt hoặc tai; chảy dịch qua cửa mũi sau xuống họng; chảy máu cam thường xuyên và liên tục; nhìn đôi hoặc nhìn mờ; mất cảm giác về mùi hoặc hương vị; đau hoặc tê ở mặt hoặc răng; sưng nề vùng mặt, vòm miệng, mũi hoặc cổ; chảy nước mắt; khó mở miệng; tái phát nhiễm khuẩn tai; khó khăn trong việc nghe.Khi thấy các dấu hiệu trên, người bệnh cần được khám và tư vấn bởi bác sĩ tai mũi họng để xác định có phải ung thư mũi xoang hay không. Dưới sự hướng dẫn của nội soi, các bác sĩ có thể lấy một mảnh khối u (sinh thiết tế bào) để xác định bệnh. Nếu là ung thư, người bệnh cần được chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ để xác định độ lan rộng cũng như ảnh hưởng của khối u.Điều trị các khối u mũi và xoangNếu ung thư được tìm thấy trong khoang mũi xoang thì có thể được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Nếu khối u nhỏ thường có thể được lấy bỏ bằng cách sử dụng phẫu thuật nội soi. Nếu một khối u đã lan vào má, mắt, dây thần kinh hoặc các cấu trúc quan trọng khác thì cần phẫu thuật mở và tia xạ bổ sung sau mổ. Các bác sĩ phẫu thuật tại Khoa Ung bướu - Bệnh viện Tai mũi họng là các chuyên gia về điều trị phẫu thuật nội soi và phẫu thuật mở ung thư mũi xoang.Như vậy ung thư mũi xoang ít gặp, các triệu trứng không rõ ràng dễ nhầm với các triệu chứng bệnh mũi xoang thông thường. Người dân cần tránh những yếu tố nguy cơ cao gây ra bệnh và đến cơ sở khám chữa bệnh tai mũi họng khi có triệu chứng nghi ngờ để được phát hiện bệnh sớm và điều trị hiệu quả. Theo suckhoedoisong
Read more…

Viêm dây thanh dễ dẫn tới ung thư



Nội soi dây thanh cho bệnh nhân - Ảnh: Hà Tường 

Thời tiết thất thường là điều kiện thuận lợi để rất nhiều bệnh lây qua đường hô hấp phát triển, đặc biệt là viêm dây thanh quản.


Bệnh nếu không được điều trị kịp thời dễ dẫn tới ung thư, phải cắt toàn bộ thanh quản, bệnh nhân trở thành người tàn phế - câm vĩnh viễn, hoặc tử vong sau 18 tháng nếu không được điều trị.

Do ô nhiễm môi trường


PGS.TS Nguyễn Thị Dinh, nguyên Viện trưởng Viện Tai Mũi Họng T.Ư, Trưởng phòng khám Tai mũi họng BV Hồng Hà cho biết thời tiết chuyển mùa, thất thường khiến bệnh viêm nhiễm đường hô hấp gia tăng. Mỗi ngày có vài chục bệnh nhân tới khám và thường gặp nhất là khàn tiếng đặc, mất tiếng, khó thở, nuốt khó, ho…

Nguyên nhân thì nhiều, song một yếu tố vô cùng quan trọng là môi trường ô nhiễm, khiến trung bình một người dân thành phố hít khoảng 10.000 vi sinh vật mỗi ngày, bao gồm virus, vi khuẩn và nấm. Khi cơ thể yếu, là lúc các vi khuẩn tấn công làm viêm mũi họng, thanh quản, viêm nhiễm các đường hô hấp trên và dưới với các biểu hiện là khản tiếng, có khi mất hẳn tiếng. Đặc biệt, những người thường xuyên hút thuốc hoặc uống rượu nhiều, sau đó bị cảm, dẫn đến viêm thanh quản. Nếu có bội nhiễm nặng, thanh quản càng phù nề, gây khó nuốt, nuốt đau, khó thở... Soi thì thấy dây thanh quản sưng to, phù nề, hoặc có u.

PGS. TS Dinh cảnh báo rằng, nhiều người rất coi thường việc ngạt mũi, sổ mũi, khan tiếng… coi đó là bệnh thông thường, nhưng không biết đó là nguyên cớ của những bệnh nghiêm trọng. 100% bệnh nhân bị bệnh ở thanh quản đều có tiền sử viêm xoang. Hơn nữa, thanh quản là nơi rất dễ bị bệnh như khi ta nói nhiều (nhất là những người hay phải sử dụng giọng như ca sĩ, giáo viên, người bán hàng) khiến các sợi dây li ti của cơ đứt tạo thành các hạt sùi dây thanh; hoặc các chất dịch tiết, do viêm mũi viêm xoang… chảy xuống họng bám vào dây thanh gây viêm, sùi… Bình thường nếu được điều trị kịp thời làm xuất tiết khí rung hoặc bấm các cục sùi… bệnh nhân khỏi bệnh sau 3 – 10 ngày.

Song nếu không được điều trị đúng, viêm nhiễm ngày càng phát triển, bệnh tái đi tái lại và biến thành u. Biểu hiện của bệnh là khàn tiếng ngày càng tăng và dẫn đến phát âm khó khăn, khàn đặc, mất tiếng, có khó thở tăng dần, kèm theo có ho kích thích, ho ra đờm có mùi rất hôi. Đau - chỉ xuất hiện khi khối u đã lan rộng, nhất là khi khối u đã bị loét. Đau thường lan lên tai và đau nhói lúc nuốt. Đến giai đoạn muộn thì xuất hiện ho khạc đờm nhày lẫn máu, đau vùng cổ, nuốt khó và sặc thức ăn, xuất tiết vào đường thở, gây nên những cơn ho sặc sụa. Ở giai đoạn này, toàn thân bị suy yếu.

Phát hiện sớm có thể chữa khỏi

Theo TS Dinh, ung thư thanh quản là bệnh thường gặp và đang có chiều hướng gia tăng ở VN. Hiện bệnh chiếm khoảng 2% tổng số các loại ung thư. Chủ yếu hay gặp ở nam giới, chiếm trên 90%, ở độ tuổi từ 50-70 (72%), 40-50 tuổi ít hơn (12%). Vì vậy, nam giới từ 40 tuổi trở nên nếu khàn tiếng kéo dài trên 3 tuần, cần đi khám xem có phải ung thư thanh quản hay không. Tuy nhiên, bệnh hiện còn gặp nhiều cả ở phụ nữ và nam giới trẻ dưới 30 tuổi. Biểu hiện ở giai đoạn đầu thì u thường khu trú ở một bên dây thanh dưới hình thái một nụ sùi nhỏ hoặc thâm nhiễm nhẹ.

Điều trị phải phẫu thuật cắt bỏ thanh quản toàn phần hoặc một phần khiến cho bệnh nhân trở thành câm. Nếu ung thư thanh quản không được điều trị, bệnh nhân thường chỉ sống kéo dài được một năm hoặc 18 tháng, tử vong thường do ngạt thở cấp tính, biến chứng viêm phế quản phổi, suy kiệt hay chảy máu ồ ạt. Tuy nhiên, nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có thể chữa khỏi 80%. Vì vậy, khi bị viêm mũi, khan tiếng, nuốt khó… nên đi khám sớm.
Read more…

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG UNG THƯ THANH QUẢN TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TRUNG ƯƠNG

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng ung thư thanh quản.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu phân tích mô tả từng ca trên 30 bệnh nhân ung thư thanh quản được phẫu thuật tại Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương từ 11/2008 đến tháng 09/2009.

Kết quả và bàn luận
: 97% gặp ở nam giới, 80% trên 50 tuổi; tất cả bệnh nhân đều bị khàn tiếng, thời gian khàn tiếng trung bình 4,2 ± 0,5 tháng. Tỷ lệ u được chẩn đoán ở giai các giai đoạn tương ứng là T1 10%, T2 40%, T3 37%, T4 13%. Vị trí xuất phát u ở tầng thanh môn 80%, tầng trên thanh môn 17%, tầng hạ thanh môn 3%. Chỉ gặp hạch cổ di căn ở giai đoạn N1 và N2 với tỷ lệ tương ứng là 10% và 13%.
Read more…

Nam giới chết vì ung thư nhiều hơn phụ nữ


Nam giới chết vì ung thư nhiều hơn phụ nữ 
Ở hầu hết các bệnh ung thư, tỉ lệ nam giới tử vong đều lớn hơn so với phụ nữ, các nhà nghiên cứu của Viện ung thư quốc gia Mỹ kết luận...

Theo HealthDay, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, ông Michael B. Cook cho rằng, lý do gây ra điều này có thể do sự khác nhau về quá trình trao đổi chất, cường độ tiếp xúc với chất gây ung thư và tính nhạy cảm giữa hai giới.

Nhóm nghiên cứu của ông Cook đã phân tích tỷ lệ sống trong 5 năm đối với 36 loại ung thư khác nhau.

Và kết quả là, tỷ lệ tử vong ở nam và nữ chênh lệch lớn nhất đối với ung thư miệng, số nam giới chết vì bệnh này gấp 5,51 lần so với nữ, tiếp đến là ung thư thanh quản với tỷ lệ 5,37 người nam chết so với 1 người nữ. Tử vong do ung thư hầu dưới cũng chênh lệch khá cao, 4,47 người nam so với 1 người nữ. Ung thư bàng quang là 3,36 nam giới trên 1 phụ nữ.

Sự chênh lệch này cũng tương tự khi xem xét các loại bệnh ung thư có tỉ lệ tử vong cao nhất. Ví dụ, ung thư phổi và phế quản giết chết 2,31 đàn ông trong khi chỉ có 1 phụ nữ. Số nam giới chết vì ung thư gan cũng gấp hơn hai lần phụ nữ. Ung thư ruột kết, ung thư đại tràng, ung thư tụy, ung thư bạch cầu cũng là những bệnh có số nam giới thiệt mạng cao hơn.

Theo các nhà nghiên cứu, khó có thể xác định nguyên gây ra sự chênh lệch về tỷ lệ tử vong ở nam và nữ này, nhưng họ khẳng định thói quen hút thuốc, uống nhiều bia rượu, cùng việc ngại đi khám là những yếu tố ảnh hưởng tới việc này.

Các tác giả cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu tìm ra các nhân tố gây nên sự khác biệt về tỉ lệ tử vong giữa nam và nữ khi mắc ung thư.

"Nếu chúng ta có thể xác định nguyên nhân của sự khác biệt giới ảnh hưởng tới tỉ lệ mắc ung thư và tử vong thì có thể có những cách để giảm gánh nặng ung thư cho cả hai giới", ông Cook cho biết.
Read more…

Nỗi ám ảnh về “làng ung thư”

Đến nay, nguyên nhân gây ra căn bệnh quái ác này vẫn chưa được làm rõ.

Trong vòng 5 năm trở lại đây, số người chết vì bệnh ung thư ở 3 thôn: Khai Tiến, Lam Giang và Trung Đức thuộc xã Võ Liệt (Thanh Chương, Nghệ An) chiếm tới 37,8% trong tổng số người chết của 3 thôn. Với tỷ lệ người chết vì ung thư cao bất thường, những thôn làng này đã bị mệnh danh là “làng ung thư” trong nỗi bàng hoàng, lo sợ của người dân.
Trong vòng 5 năm trở lại đây, làng Khai Tiến có tới 11/24 người chết vì bệnh ung thư  

Tỷ lệ mắc bệnh tăng cao

Thôn Khai Tiến nằm dọc theo con đường nhựa chạy song song với dòng sông Lam. Nếu nhìn vào cảnh trí một làng quê ven sông, phía xa xa thấp thoáng những bóng núi ẩn hiện trong sắc nắng vàng thì không khác gì một bức tranh hoàn mỹ. Nhưng bên trong sự bình yên, đẹp đẽ của vùng quê ấy là nỗi lo sợ về căn bệnh ung thư.

Ở ngôi làng chỉ có 134 hộ dân với gần 600 nhân khẩu mà trong vòng 5 năm trở lại đây đã có tới 11/24 người chết vì căn bệnh ung thư. Vậy nên, ai nấy trong làng đều bàng hoàng, lo lắng.

Ông Nguyễn Hững Thắng, Trưởng thôn Khai Tiến cho hay: Trong số 11 người ở thôn chết vì ung thư, có trường hợp “chết đôi” do ung thư như cha con ông Nguyễn Văn Tỵ, có trường hợp chết vì ung thư khi mới 19 tuổi.

Hồi tháng 7 vừa qua, ông Lê Văn Bình chết vì căn bệnh ung thư thanh quản, gánh nặng gia đình với 4 đứa con đang ăn học đổ hết lên đôi vai người vợ. Khi chúng tôi tìm đến nhà ông, căn nhà cấp 4 tuềnh toàng khóa cửa im ỉm. Hàng xóm cho biết, bà Nguyễn Thị Lan, vợ ông Bình đang trồng ngô ngoài bãi. Chờ mãi mới thấy bà Lan tấp tểnh vác cuốc, cắp chậu thau bước vội về nhà.

“Nhà có 6 khẩu, nhưng chỉ 5 người có ruộng, được gần 5 sào nên phải tranh thủ đi trồng thêm ngô ngoài bãi, mỗi khẩu cũng chỉ được hơn chục hàng ngô” - bà Lan mở đầu câu chuyện.

Theo bà Lan, chồng bà bị yếu từ 10 năm trước, không giúp được mấy việc trong nhà, nhưng vẫn là “trụ cột”, niềm an ủi lớn cho cả nhà. Lần lượt 3 đứa con đều đỗ đại học ở Hà Nội, Vinh và TP HCM. Do nhà nghèo, lại đang vay ngân hàng trên dưới 100 triệu đồng nên dù chân bị khập khiễng, giọng nói bị khàn, nhưng ông Bình vẫn cố chịu, không đi khám, chữa trị. Thế rồi, khi những cơn đau quá sức chịu đựng của ông, các con mới đưa ông xuống huyện, tỉnh khám. Rồi chưa yên tâm với kết quả, họ lại đưa bố ra Hà Nội khám. Bác sỹ kết luận ông Bình bị ung thư thanh quản.

Thấp thỏm âu lo


Theo ông Nguyễn Cảnh Quang, Trạm trưởng y tế xã Võ Liệt: Những căn bệnh ung thư mà người dân nơi đây mắc phải là: ung thư thanh quản, phổi, vòm họng, dạ dày, máu, xương… Theo ông Quang, người chết vì ung thư đang có xu hướng tăng dần và “trẻ hóa” qua từng năm. Đáng lưu ý, tác nhân gây ung thư đến nay vẫn chưa được làm rõ, không biết do nguồn nước hay môi trường sống nên bà con hết sức lo lắng và hoang mang.

Theo phản ánh của người dân, các căn bệnh ung thư phát triển mạnh ở làng từ khi bắt đầu có giếng khoan. Trước đây dùng nước giếng khơi ăn, uống thấy hơi lợm nên người dân cứ ra sông gánh nước về ăn, sau này có giếng khoan họ dùng than hoa, cát để lọc nước. Gần 10 năm trở lại đây, người dân ở 3 thôn Trung Đức, Khai Tiến và Lam Giang (xã Võ Liệt) vẫn sử dụng nước giếng khoan bị nhiễm phèn quá nặng. Nhiều hộ gia đình xây đến ba, bốn bể lọc bằng cát, đá và than nhưng nước lọc ra vẫn có màu vàng đục, đặc quánh. “Không biết nguồn nước này có “sạch” hay không nhưng vì không có nước sử dụng nên chúng tôi vẫn phải dùng", ông Nguyễn Hữu Thắng, Trưởng thôn Khai Tiến bức xúc.

Theo đánh giá bước đầu của Trung tâm y tế huyện Thanh Chương, nước mà các hộ dân dùng có nguồn gốc từ rừng sâu, có mùi tanh của sắt; 80% số hộ lọc xong nước trong, không vị, mùi sau 24 giờ; 20% số hộ lọc xong vẫn còn cặn nhẹ, để 24 giờ hết mùi tanh, có váng nước vàng nhạt. Như vậy, nguồn nước được nêu ra như là tác nhân gây bệnh cho người dân nhiều nhất. Thế nhưng, đến nay, vẫn chưa có kết quả xét nghiệm chính xác nào được công bố cho người dân biết. Trung tâm y tế huyện Thanh Chương đã đề nghị huyện, tỉnh cho xây dựng nhà máy nước, cung cấp nước sạch cho các thôn có nhiều người chết vì ung thư./.
Read more…

Nói giọng thực quản - Cơ hội cho người bệnh ung thư thanh quản

Thanh quản là bộ phận chính của cơ quan phát âm, khi bị ung thư và đòi hỏi phải cắt bỏ toàn bộ thanh quản để cứu sống bệnh nhân đồng nghĩa với việc người bệnh mất đi tiếng nói mà tạo hóa ban tặng. Nhu cầu bức thiết ngay sau đó là làm sao trả lại tiếng nói cho người bệnh để họ có một cuộc sống mới không tàn phế. Lời nói và các bộ phận cấu thành lời nói

Lời nói được hình thành bởi sự tham gia của rất nhiều bộ phận trong cơ thể. Từ vỏ não, lời nói nội tâm được chuyển xuống bộ phận phát âm gồm phổi, thanh quản, họng, mũi xoang, lưỡi, môi và răng. Cơ quan phát âm hình thành lời nói qua 3 giai đoạn: Tạo âm thanh (do sự rung của dây thanh - một bộ phận của thanh quản), cộng hưởng (họng, mũi, xoang) và phân tích âm tiết (lưỡi, môi, răng, mũi) - tạo ra các phụ âm, nguyên âm rồi tạo thành từ, câu.

Cơ sở của giọng nói thực quản


Bệnh nhân bị mất cơ quan phát ra tiếng thanh nhưng vẫn còn lại hai trong ba bộ phận phát âm. Mục đích của việc tái tạo phát âm sau cắt thanh quản toàn phần là tìm ra những nguồn phát ra tiếng thanh nhân tạo thay thế và vẫn sử dụng những bộ phận còn lại của bộ máy phát âm.Những năm ngay sau khi thực hiện thành công phẫu thuật thanh quản, các nhà phẫu thuật thanh quản thông báo một điều ngạc nhiên là một số bệnh nhân sau khi cắt thanh quản toàn phần vẫn có khả năng nói được. Phải đến một vài năm, điều bí ẩn này mới được Seaman giải đáp: ở các bệnh nhân này phần thực quản cổ có thể hoạt động như một thanh quản mới. Nếu khi ta ợ hơi, không khí còn lại phần trên dạ dày và thực quản bật ra sẽ nghe thấy một tiếng “kêu” bất thường. Bệnh nhân sau khi cắt thanh quản toàn phần sẽ lấy nguồn hơi từ phần dạ dày và thực quản như là nơi dự trữ không khí thay thế vai trò của phổi trong quá trình tạo thanh. Từ cơ sở đó, giọng thực quản (Esophagus voice) đã ra đời.
Khi bệnh nhân bị mất đi thanh quản thì sẽ mất cơ quan tạo âm nhưng phần cộng hưởng và cấu âm vẫn còn. Dựa trên nguyên tắc đó, trường hợp bệnh nhân ung thư thanh quản bị cắt thanh quản toàn phần, chỉ mất đi cơ quan tạo âm, nếu tạo được phần này thì bệnh nhân có thể sẽ phát âm trở lại được


Sự chuyển động của cột khí trong thực quản làm rung cơ thắt họng thực quản (hoạt động như thanh quản giả). Sau đó âm thanh phát ra được biến đổi do hệ thống cấu âm và cộng hưởng trên thanh môn như bình thường. Chất lượng giọng của người nói giọng thực quản yếu hơn bình thường vì mỗi lần lấy hơi chỉ được khoảng 15ml, ít hơn người bình thường gần 100 lần, nên chỉ nói được rất ngắn.Nếp niêm mạc của màng thực quản hoạt động như một dây thanh giả sau khi thanh quản bị cắt bỏ toàn bộ. Lúc này luồng hơi đóng vai trò chủ đạo. Việc tạo ra nguyên âm và phụ âm là do quá trình luyện tập của người tập phát âm để phối hợp nhuần nhuyễn sự dừng lại đột ngột hoặc điều chỉnh tốc độ luồng không khí đi từ thực quản lên tạo rung nếp niêm mạc ở miệng thực quản mà thành chứ không do sự điều khiển của các cơ đóng mở thanh quản như trước.Vậy điều cốt yếu là phải làm sao dự trữ được nhiều hơi trong dạ dày và thực quản, kết hợp với điều khiển luồng hơi khi đi qua nếp niêm mạc của họng thực quản thành thói quen sau khi được luyện tập.Phương pháp này rất hiệu quả, không yêu cầu phẫu thuật hoặc cần vật liệu nhân tạo và không gây biến chứng nguy hiểm. Khi nói chuyện rất tự nhiên do không cần phải bịt lỗ thở đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của mọi người nên được 92% bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần lựa chọn.

Phương pháp để tạo ra giọng thực quản

1. Luyện tập thể dục là bài tập đầu tiên giúp cho các cơ thành bụng, cơ hoành thật khỏe bằng phương pháp thở bụng.

2. Tạo ra luồng hơi:

- Há miệng lấy không khí vào mồm.

- Ngậm miệng để giữ không khí .

- Nuốt không khí trong miệng vào thực quản và dạ dày.

- Đẩy khối không khí vừa nuốt vào ra ngoài để tạo tiếng “ợ”.

Đây là nguồn thanh cơ bản của những người nói giọng thực quản.Việc phối hợp giữa các thầy thuốc lâm sàng và các nhà ngôn ngữ học đã tìm hiểu được đặc điểm giọng thực quản thể hiện tốt được nguyên âm A, U, các phụ âm tắc, phụ âm xát và phụ âm rung. Những nguyên âm và phụ âm này cấu tạo nên trên 70% các âm tiết trong tiếng Việt vì thế những người nói giọng thực quản có được thuận lợi ngay từ giai đoạn đầu.Tiếng rè của dịch dạ dày lẫn trong không khí làm tiếng bệnh nhân nói giọng thực quản phát âm ra có độ ồn khá lớn. Do đó để giảm thiểu tiếng rè này, các bác sĩ tai mũi họng phải kết hợp với một số thuốc giảm xuất tiết và tập thở bụng làm sao cho lượng không khí vào có thể tích lớn nhất và dồn ngay luồng hơi ra khi chưa vào đến dạ dày.
Read more…

Bệnh ung thư - Mười lăm dấu hiệu cảnh báo!

Qua cách nhận biết mười lăm dấu hiệu này ta có thể biết được sớm và nhanh chóng đến bệnh viện để chữa trị.
Bệnh ung thư - Mười lăm dấu hiệu cảnh báo! 

1. Sút cân với mức độ chóng mặt (đối với người không ăn kiêng và giảm cân chủ động), cảm thấy ngột ngạt, bực dọc, lo lắng ; rối loạn tiêu hoá, chán ăn, bệnh tiêu chảy tái đi tái lại là tất cả những triệu chứng thường xảy ra nhất đối với chứng ung thư phổi, bao tử, thận và ruột. Kèm theo đó là hiện tượng yếu và suy kiệt sức khoẻ; kèm theo triệu chứng mất máu hoặc thiếu hụt vài nguyên tố vi lượng trong máu.

2. Những cơn đau không rõ nguyên nhân, những cơn đau bao tử kéo dài và dai dẳng có thể là triệu chứng ung thư ruột non; chứng đau thắt lưng có thể là triệu chứng của ung thư thận, đau ngực có thể là kết quả của ung thư phổi, hoặc đau xưng được gây ra bởi sự di căn.

3. Chứng ho ra máu (khai huyết), hoặc khản giọng kéo dài hơn 3 tuần, ho dai dẳng có thể gây ra bởi chứng ung thư phổi hoặc ung thư thanh quản

4. Sự thay đổi màu các nốt rùi, mụn cơm , viêm loét và ngứa , viêm loét vết thương hở, vết bỏng có thể là dấu hiệu của bênh ung thư da.

5. Chứng đi tiểu nhiều hoặc bí đái, đau rát khi đi tiểu, tiểu chậm và lâu hoặc chứng đau lưng có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới.

6. Đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, vấn đề về khúc xạ (hình ảnh bị móp méo như chứng loạn thị), trở ngại khi nghe, mất cân bằng và rối loạn thần kinh có thể là kết quả của bệnh ung thư nảo.

7. Chứng nuốt khó có thể là triệu chứng của bệnh ung thư cổ họng, thanh quản thực quản và ung thư bao tử.

8. Cảm giác đầy bụng ở thượng vị, đau và rối loạn về tiêu hoá có thể bị gây ra bởi ung thư bao tử, ung thư ống tiêu hoá hoặc cũng có thể là ung thư buồng trứng.

9. Máu trong phân, hoặc phân bị đen, hay chứng tiêu chảy hoặc táo bón, có dịch nhầy trong phân... là những triệu chứng của ung thư ống tiêu hoá đặc biệt là ở ruột non và trực tràng.

10. Máu trong nước tiểu hoặc bí đái, tiểu khó có thể đi liền với bệnh ung thư đường tiết niệu.

11. Máu chảy nhiều trong kì kinh nguyệt, âm đạo trở nên đỏ sậm, đau hạ vị và bụng dưới có thể là những dấu hiệu của ung thư âm đạo, tử cung hoặc cổ tữ cung.

12. Những vết bớt xuất hiện trên da hoặc màng nhầy (môi, khoang miệng, vùng sinh dục) , tình trạng viêm loét khó lành, sự thay đổi màu sắc của những vết bớt, sự phân bố bất thường của sắc tố da tạo ra những vết bớt mới trên da, những đường mờ mờ xuất hiện trên những vết bớt, vết bớt phát triển nhanh,chảy máu hoặc chảy mủ.

13. Khối u ở vú ( khoảng 15% - 25% khó sờ thấy ), viêm loét, sự teo đầu vú hoặc thay đổi hình dạng, kích cở núm vú, những vết sưng tấy, vết bớt xung quanh đầu vú; sự lớn lên của những tuyến bạch huyết dưới nách ; trương phồng huyết quản vùng da ngực, hay viêm loét xuất hiện ở ngực, khối u ở vai, sự nở trên diện rộng của những vết bầm đỏ...là những triệu chứng của ung thư vú.

14. Chứng sốt, hay mệt mỏi, đau xương khớp, thiếu máu hoặc chảy máu, những khối u khó sờ thấy ở ổ bụng cũng như trương phồng lá lách (mà có thể chuẩn đóan được qua xét nghiệm dạ dày)

15. Những cơn đau ở vùng bên phải-phía trên của bao tử ; chứng mệt mỏi, biếng ăn và nghiêm trọng hơn là những khối u sờ thấy được tại vùng trên- bên phải của bao tử, da vàng và tái nhợt hoặc chứng xuất huyết... có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư gan.
Read more…

BIẾN ĐỔI THANH ĐIỆU TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ THANH QUẢN

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, thanh điệu được tạo ra từ thanh quản nên ung thư thanh quản có thể ảnh hưởng đến thanh điệu.

Mục tiêu:

1.Đánh giá biến đổi thanh điệu ở bệnh nhân ung thư thanh quản.

2. Tìm hiểu mối liên quan giữa biến đổi thanh điệu và giai đoạn khối u.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu phân tích mô tả từng ca trên 30 bệnh nhân ung thư thanh quản phát âm được đầy đủ 6 thanh điệu. So sánh sự thay đổi của ba tiêu chí cơ bản của thanh điệu là đường nét thanh cơ bản Fo, hiện tượng thanh quản hóa ở thanh hỏi và thanh ngã, đối chiếu sự thay đổi này với giai đoạn u.

Kết quả: Fo bình thường 26,67% ở giai đoạn T1, biến đổi 46,66% ở giai đoạn T2 và T3, Fo không tồn tại hoặc đứt đoạn 26,67% ở giai đoạn T4. Hiện tượng thanh quản hoá bình thường 26,67% ở giai đoạn T1, biến đổi 30% ở giai đoạn T2, không xuất hiện 43,33% ở giai đoạn T3 và T4.

Kết luận
: Ở giai đoạn muộn T3, T4 ung thư thanh quản làm biến đổi nhiều thanh điệu
Read more…

Cựu Tổng thống Brazil Lula bị ung thư thanh quản

- Cựu tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva (Lula) sẽ phải trải qua hóa trị để điều trị một khối u ở thanh quản, bị chẩn đoán là ung thư, sau cuộc kiểm tra tại bệnh viện Sirio Libanes bang Sao Paulo.
Ông Lula-Ảnh: Reuters. 

Bác sỹ Artur Katz, một trong các bác sĩ tham gia hội chẩn, cho biết, cựu tổng thống trong “tình trạng rất tốt”. Ông tiết lộ khối u không lớn và Silva có cơ hội hồi phục hoàn toàn.

Theo kiểm tra ban đầu từ bệnh viện, có thể khối u bị gây nên bởi việc ông Lula hút quá nhiều xì gà mỗi ngày. Ngoài ra, vị cựu tổng thống này 66 tuổi này cũng nổi tiếng là người sành rượu.

Jose Crispiniano, phát ngôn viên của “Lula Institute”, 1 tổ chức phi chính phủ được thành lập bởi ông Luiz Inacio Lula da Silva cho biết đợt hóa trị sẽ bắt đầu vào tuần tới.

Ông Luiz Inacio Lula da Silva, biệt danh “Lula”, được bầu làm tổng thống Brazil năm 2002 và tái đắc cử vào năm 2006.Dưới sự lãnh đạo của ông, Brazil có nền kinh tế tăng trưởng vững chắc, dự trữ quốc tế tăng từ 38 tỷ USD năm 2002 lên 240 tỷ USD vào cuối năm 2009, kềm chế được lạm phát.

Ngoài ra, trong giai đoạn nắm quyền của ông, 20 triệu người đã thoát cảnh nghèo đói, tỷ lệ thất nghiệp ở mức rất thấp. Bằng uy tín của mình, ông còn giúp đất nước giành được quyền đăng cai World Cup 2014 và Thế vận hội năm 2016, lần đầu tiên được tổ chức tại Nam Mỹ.

Silva rời ghế tổng thống với tỷ lệ tín nhiệm là 87%, mức cao kỷ lục cho 1 tổng thống hết nhiệm kỳ. Người kế nhiệm ông Lula vào năm 2010, bà Dilma Rousseffcũng từng phẫu thuật một khối u ác tínhnăm 2009.
Read more…

Những Điều Cần Biết Về Ung Thư Thanh Quản (larynx)

Bác sĩ Trần Lý Lê (tvvn.org), Chuyên Khoa Nội Thương, Khảo Cứu Ung Thư
Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute)

hình minh họa
Mỗi năm khoảng 10 ngàn người bị ung thư thanh quản tại Hoa Kỳ.
hình minh họa 
Thanh quản nằm ở mặt trước của cổ, tên Anh ngữ là "larynx" hay "voice box", dài khoảng 5 phân và rộng khoảng 5 phân, nằm trên khí quản (trachea), dưới và sau thực quản (esophagus). Xem hình sau đây:

Thanh quản gồm hai cơ mỏng (vocal cords) tạo ra âm thanh; phần sụn (cartilage) nằm trước thanh quản được gọi là quả táo Adam.
hình minh họa 
Thanh quản có 3 phần chính: Phần đầu là supraglottis, nằm trên cơ phát âm; phần giữa là glottis, cơ phát âm nằm ở phần này; và phần cuối là subglottis, nối liền với khí quản.
Thanh quản làm công việc của một cái van, tự động đóng mở khi cần thiết lúc ta thở, nuốt và nói:
• Khi ta thở, cơ phát âm trong thế nghỉ và mở.
Khi nín thở, cơ phát âm đóng chặt.
• Khi ta nuốt, epiglottis che kín miệng thanh quản, nên thức ăn không lọt vào phổi mà đi qua thực quản để xuống dạ dày. Thanh quản che chắn khí quản.
• Khi ta nói, cơ phát âm (vocal cords) co thắt và hai cơ này thu lại gần nhau, khí từ phổi bị đẩy qua giữa 2 cơ phát âm, tạo sự rung động và tạo ra âm thanh. Lưỡi, hai môi và răng biến những âm thanh này thành tiếng nói.
Hiểu biết căn bản về ung thư
Ung thư khởi đầu từ tế bào, đơn vị căn bản của mọi mô, mô tạo thành bộ phận.
Bình thường, tế bào khỏe mạnh sinh sản và tăng trưởng tạo ra những tế bào con khi cần thiết. Khi tế bào khỏe mạnh già lão hoặc bị hư hoại, chúng chết, và các tế bào mới thay thế.
Đôi khi, quá trình sinh-tử trật tự kể trên bị đảo lộn. Tế bào mới xuất hiện trong khi cơ thể không cần đến, hoặc tế bào già lão, hư hoại không chết như đã định, sự tích tụ của các tế bào mới và cũ tạo thành khối gọi là "khối u", bướu hay "tumor".
Khối u (bướu) có thể "lành" (benign) hoặc "độc" (malignant). Bướu lành thường không độc hại như bướu độc.
Bướu lành:
Ít khi gây tử vong
Thường không cần giải phẫu để cắt bỏ
Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc:
Có thể gây tử vong
Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
Lan ra các bộ khác
Tế bào ung thư lan rộng bằng cách tách rời từ khối u đầu tiên hay khối ung thư nguyên phát (primary tumor). Các tế bào này theo mạch máu (blood vessel) hoặc mạch bạch huyết (lymph vessel) đến mọi bộ phận trong cơ thể. Tế bào ung thư có thể "bám" vào các bộ phận và sinh sản, tạo nên một khối u mới hay khối ung thư thứ phát (secondary tumor), có thể gây hư hoại các bộ phận này. Sư lan tràn của tế bào ung thư gọi là "metastasis".
Những bướu, u mọc trên thanh quản gọi là nodules hoặc polyps, những u này có thể là bướu lành hoặc bướu độc. Bướu độc (ung thư) tại thanh quản gọi là laryngeal cancer. Hầu hết những loại ung thư tại thanh quản đều bắt đầu từ glottis. Mọi tế bào lót thanh quản đều là tế bào squamous và ung thư thanh quản là loại ung thư do những tế bào này bị ung hoại nên có tên là squamous cell carcinoma. Ung thư thanh quản nằm trong danh sách các loại ung thư đầu & cổ (head & neck cancers).
Qua giòng bạch huyết, ung thư thanh quản lan ra lưỡi, những bộ phận trong miệng & cuống họng, phổi và cơ thể.
Những yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư thanh quản
Y học chưa xác định được nguyên nhân gây ung thư thanh quản, và cũng không thể giải thích tại sao người này bị ung thư mà người khác không bị ung thư. Tuy nhiên Y học đã có thể dùng thống kê để nhận định một số yếu tố gia tăng nguy cơ bị ung thư thanh quản. Các yếu tố này bao gồm:
• Tuổi tác: Ung thư thanh quản tìm thấy trong những người trên 55 tuổi.
• Phái tính: Phái nam bị ung thư thanh quản nhiều gấp 4 lần phái nữ.
• Chủng tộc: Người da đen bị ung thư thanh quản nhiều hơn người da trắng.
• Hút thuốc lá: Tỷ lệ ung thư thanh quản cao hơn với những người hút thuốc lá. Khi ngừng hút thuốc, tỷ lệ ung thư thanh quản sẽ giảm, cũng như tỷ lệ những loại ung thư khác cũng sẽ giảm. Tỷ lệ ung thư lên cao hơn nữa với người vừa hút thuốc vừa uống rượu.
• Rượu gia tăng tỷ lệ ung thư thanh quản.
• Ung thư đầu cổ: 25% những bệnh nhân này sẽ bị ung thư lần thứ nhì (secondary cancer) trên vùng đầu & cổ.
• Môi sinh & công việc làm: Việc sử dụng hóa chất sulfuric acid, asbestos hoặc kẽm (nickel) gia tăng tỷ lệ ung thư thanh quản.
Một số tài liệu cho rằng vài loại siêu vi khuẩn (virus), hoặc ăn uống thiếu vitamin A, và chứng gastroesophageal reflux disease (GERD), khi thức ăn trong dạ dày bị đẩy ngược lên thực quản cũng làm gia tăng tỷ lệ ung thư thực quản.
Triệu chứng của ung thư thực quản
Tùy thuộc vào kích thước và vị trí của khối u mà một hoặc nhiều triệu chứng sau xuất hiện:
• Khản tiếng hoặc giọng nói thay đổi
• Khối u trong cuống họng
• Rát cổ hoặc bị cảm giác như có vật gì nghẹn trong cổ họng
• Ho khúc khắc lâu ngày không hết
• Thở một cách khó khăn, hơi thở có mùi hôi
• Đau tai
• Xuống ký lô
Những triệu chứng kể trên có thể do các căn bệnh khác, chỉ khi thử nghiệm để chẩn bệnh ta mới có thể xác định nguyên nhân.

Chẩn bệnh
1. Khám bệnh: Bác sĩ xem xét cổ, thanh quản, cuống họng, tuyến giáp trạng, hạch bạch huyết tìm khối u
2. Indirect laryngoscopy: Dùng một cái gương chuôi dài, bác sĩ rọi đèn để quan sát cơ phát âm, xem hai cơ này có co giãn bình thường không. Bác sĩ có thể dùng thuốc tê làm giảm bớt phản xạ "muốn ói" (gag reflex)
3. Direct laryngoscopy: Bác sĩ dùng laryngoscope, một ống dài mềm đầu ống gắn kính hiển vi và đèn, chuyền qua mũi hoặc miệng đưa vào cuống họng để quan sát những cấu trúc của thanh quản. Bác sĩ có thể dùng thuốc tê hoặc thuốc ngủ giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Việc quan sát này có thể thực hiện tại văn phòng bác sĩ hoặc bệnh viện.
4. CT scan chụp hình ảnh những cấu trúc trong cuống họng và cổ.
5. Sinh thiết: Bác sĩ lấy một mảnh mô từ khối u trong thanh quản để quan sát dưới kính hiển vi, tìm kiếm sự bất thường của tế bào, nếu có.
Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):
• Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
• Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
• Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
• Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không? Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
• Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
• Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp tới? Và khi nào?

Định thời kỳ của ung thư
Để hoạch định cách chữa trị thích hợp nhất, bác sĩ cần biết thời kỳ của ung thư. Định kỳ ung thư để biết rằng ung thư đã lan chưa, nếu có đã lan đến bộ phận nào trong cơ thể. Bác sĩ có thể dùng những phương cách chẩn bệnh trên để định thời kỳ của ung thư.

Chữa trị ung thư thanh quản
Bệnh nhân thường muốn tham dự các quyết định trị liệu nên muốn biết chi tiết về căn bệnh của mình. Tuy nhiên, sự hốt hoảng, sợ hãi khi nghe tin báo về ung thư khiến bệnh nhân mất bình tĩnh, khó có thể nhớ hết những chi tiết đã thảo luận với bác sĩ. Quý vị có thể:
- Tạo một danh sách các câu hỏi
- Ghi chép chi tiết mỗi lần thăm bệnh
- xin phép bác sĩ để dùng máy thu âm
- Đi thăm bệnh với quý vị hoặc thân nhân
Bác sĩ cũng có thể giới thiệu bệnh nhân đến các chuyên viên khác hoặc tự bệnh nhân muốn được chuyển bệnh. Chuyên gia chữa trị ung thư thanh quản bao gồm bác sĩ giải phẫu, otolaryngologist (bác sĩ tai mũi họng), bác sĩ chuyên trị ung thư (medical oncologist), và bác sĩ chuyên về xạ trị (radiation therapist).
Các chuyên viên giải thich về các cách chữa trị, mức hiệu quả và phản ứng phụ có thể xảy ra. Chữa trị ung thư thường ảnh hưởng đến cả những mô, những tế bào bình thường nên phản ứng phụ cũng thường xuất hiện. Trước khi bắt đầu việc chữa trị, hãy thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ có thể xảy ra và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến đời sống hằng ngày như thế nào. Bác sĩ và bệnh nhân cùng quyết định về việc chọn một cách chữa trị thích hợp.

Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu
Quý vị nên tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia về các cách chữa trị khác nhau, bác sĩ giải phẫu, bác sĩ chuyên về xạ trị, bác sĩ chuyên về ung thư và cả chuyên viên huấn luyện các phát âm (speech therapist).
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.

Chuẩn bị việc chữa tr
Bác sĩ sẽ mô tả chi tiết việc chữa trị, các biến chứng hoặc phản ứng phụ có thể xảy ra. Ngoài ra, quý vị có thể đặt câu hỏi những câu hỏi về sự thay đổi ngoại hình sau khi chữa trị.
Quý vị có thể thảo luận với bác sĩ về thử nghiệm lâm sàng, tìm kiếm cách chữa trị mới. Thử nghiệm lâm sàng là một lựa chọn quan trọng. Bệnh nhân tham dự được thử nghiệm với cách trị liệu mới. Mời quý vị đọc thêm phần "Sự hứa hẹn của Ngành Khảo Cứu Ung Thư".
Trước khi chữa trị, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
• Tôi ở trong thời kỳ nào? Ung thư đã lan xa chưa? Nếu có, đã lan đến đâu?
• Có bao nhiêu cách chữa trị? Bác sĩ đề nghị cách nào? Tôi có được chữa trị bằng nhiều cách không?
• Tôi có phải vào bệnh viện không? Sau khi rời bệnh viện, tôi sẽ được chăm sóc ra sao?
• Biến chứng và phản ứng phụ là những gì? Ta sẽ phòng ngừa hoặc chữa trị ra sao?
• Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
• Có cần phải thay đổi hoạt động trong đời sống hằng ngày không?
• Tôi có hồi phục hoàn toàn không? Bao nhiêu lâu thì hồi phục?
• Tôi cần đi khám bệnh định kỳ không?
• Việc chữa trị có tốn kém nhiều không? Bảo hiểm của tôi có trả không?
• Tôi có nên tham dự thử nghiệm lâm sàng không?
Quý vị không nhất thiết phải đặt tất cả mọi câu hỏi cùng lúc, quý vị sẽ có nhiều cơ hội để thảo luận những chi tiết chưa rõ ràng với bác sĩ hoặc các chuyên viên trong suốt thời gian trị liệu.
Các phương thức trị liệu
Có thể dùng giải phẫu, xạ trị hoặc cả hóa chất trong việc chữa trị ung thư thanh quản.
Cách chữa trị tùy thuộc vào nhiều yếu tố như sức khỏe toàn diện, ung thư khởi đầu từ vị trí nào, kích thước của khối u và sự lan truyền của ung thư, nếu có.

Xạ trị
Tia phóng xạ được đưa đến khối u để đốt tế bào ung thư, và những mô chung quanh khối u. Đây là một cách chữa trị "tại chỗ". Cuộc chữa trị kéo dài mỗi ngày, 5 ngày một tuần, từ 5-8 tuần lễ.
- Xạ trị được sử dụng như một cách chữa trị chính khi không thể mổ (khối u quá lớn, bệnh nhân không thể chịu được cuộc giải phẫu...).
- Xạ trị dùng chung với giải phẫu: xạ trị được dùng trước khi giải phẫu để đốt bớt khối u cho dễ mổ, hoặc sau khi giải phẫu để đốt những tế bào ung thư còn sót lại. Khi khối u mọc trở lại, xạ trị thường được dùng để chữa trị.
- Xạ trị dùng trước khi, trong khi, hoặc sau khi sử dụng hóa chất trị liệu.
Khi sử dụng xạ trị, ống thức ăn (feeding tube) đặt ở bụng để chuyển thức ăn đến dạ dày. Ống thức ăn này có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Giải phẫu
Bác sĩ dùng dao mổ hoặc tia laser để cắt bỏ khối u trong khi bệnh nhân ngủ mê. Có nhiều phương pháp mổ để cắt bỏ ung thư tại thanh quản (laryngectomy), cách thức mổ tùy thuộc vào kích thước và nơi chỗ của khối u.
- Cắt bỏ hoàn toàn thanh quản (total laryngectomy)
- Cắt bỏ một phần thanh quản (partial laryngectomy):
• Supraglottic laryngectomy: Bác sĩ cắt bỏ phần trên thanh quản, supraglottis.
• Cordectomy: Bác sĩ cắt bỏ một hoặc cả hai cơ phát âm (vocal cords)
Đôi khi, bác sĩ cắt bỏ cả những hạch bạch huyết ở cổ (lymph node dissection) hoặc cắt bỏ cả tuyến giáp trạng. Trong cuộc giải phẫu thanh quản, bác sĩ sẽ phải mở một lỗ hổng ở cổ (stoma) xuyên qua khí quản (trachea) để dẫn không khí vào phổi qua một cái ống; phương cách này được gọi là tracheostomy. Ống thở có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn. Quý vị có thể đọc thêm phần "Sống với lỗ hổng tại khí quản".
Sau khi mổ,một số bệnh nhân sẽ cần ống dẫn thực phẩm trong một thời gian ngắn.
Trước khi giải phẫu, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
-Tôi sẽ ra sao sau khi mổ?
- Tôi có cần ống thở không?
- Tôi có cần học cách tự chăm sóc khi về nhà không?
- Vết thẹo sẽ nằm ở đâu? Trông như thế nào?
- Gp có ảnh hưởng đến giọng nói không? Nếu có, ai sẽ người chỉ dẫn cho tôi cách phát âm mới?
-Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Hóa chất trị liệu
Hóa chất được dùng để diệt tế bào ung thư. Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều loại hóa chất chung với nhau. Thuốc để chữa trị ung thư thanh quản thường là loại thuốc chích vào tĩnh mạch, theo máu luân lưu khắp cơ thể.
Hóa chất trị liệu được dùng để chữa ung thư thanh quản qua nhiều cách:
- Trước khi giải phẫu hoặc xạ trị để làm nhỏ bớt khối u (adjuvant therapy);
- Sau khi giải phẫu hoặc xạ trị để hủy hoại những tế bào ung thư còn sót lại hoặc những tế bào ung thư đã lan ra nơi khác;
- Thay cho giải phẫu, thanh quản không bị cắt bỏ nên tiếng nói không bị ảnh hưởng.
Hóa chất trị liệu có thể thực hiện tại văn phòng bác sĩ, tại trung tâm y tế hoặc tại nhà riêng. Hiếm khi bệnh nhân cần ở lại bệnh viện.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu chữa trị hóa chất:
-Mục đích của việc chữa trị là gì? Có nhiều cách chữa để tôi chọn lựa không? Làm thế nào để biết rằng việc chữa trị có hiệu quả?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào? -Có cách nào phòng ngừa không?
-Việc chữa trị sẽ tốn bao nhiêu? Bảo hiểm của tôi có trả chi phí không? Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào hợp với bệnh trạng của tôi không?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
-Tôi có cần ở lại bệnh viện không? Nếu có, bao nhiêu lâu?
-Thử nghiệm lâm sàng có phải là cách chữa trị cho tôi không?
Phản ứng phụ của trị liệu
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế bào lành mạnh, nên thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào vị trí của khối u, cách chữa trị và mức đọ chữa trị nhiều hay ít. Phản ứng phụ không xuất hiện giống nhau cho tất cả mọi người, và trong cùng một con người, phản ứng phụ có thể thay đổi từ lần chữa trị này so với lần chữa trị khác. Trước khi chữa trị, bác sĩ sẽ giải thích việc phản ứng phụ có thể xảy ra và cách ngăn ngừa.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, supportive care (tạm dịch là “chữa trị phụ” nhằm giúp bệnh nhân duy trì sức khỏe, chịu đựng những phản ứng phụ, biến chứng từ việc chữa trị chính) cũng được sử dụng để giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Tin tức về việc chữa trị được đăng tải trên trang nhà của Viện Ung Thư Quốc Gia www.cancer.gov/cancertopics/coping, và Information Specialists at 1-800-4-CANCER hoặc LiveHelp 1 (http://www.cancer.gov/help).
Xạ trị: Bệnh nhân có một hoặc nhiều biến chứng sau:
• Khô miệng: Uống nước nhiều hoặc dùng nước miếng nhân tạo sẽ làm giảm khô miệng
• Rát cổ họng & miệng: Dùng những loại thuốc súc miệng có thuốc tê để giảm đau.
• Vết thương ở răng & nướu lâu lành (delayed healing): Nếu răng & nướu cần được chữa trị, nên chữa trị trước khi dùng xạ trị.
• Hư răng: Cần chăm sóc răng miệng kỹ lưỡng để làm giảm hư răng, dùng bàn chải răng sợi mềm, hoặc quấn bông gòn, dùng kem đánh răng chứa fluoride, súc miệng với nước muối, nước pha peroxide, baking soda nhiều lần trong ngày để giữ răng miệng sạch sẽ.
• Thay đổi vị giác và khứu giác: Thức ăn sẽ có mùi và vị khác lạ
• Mất sức, mệt mỏi.
• Thay đổi tiếng nói, tiếng nói thay đổi với thời tiết, có thể mất tiếng nói vào cuối ngày, có cảm giác như bị mắc nghẹn.
• Thay đổi trên da: Nơi chữa trị sẽ tấy đỏ hoặc nám đen, tránh ánh nắng hoặc y phục cọ sát những vùng da này. Tuyệt đối không sử dụng bất cứ loại kem dưỡng da nào nếu không có ý kiến của bác sĩ.
Giải phẫu: Bệnh nhân có một hoặc nhiều biến chứng sau:
• Đau đớn
• Yếu đuối, mệt mỏi
• Sưng trướng trong cổ họng: Bệnh nhân sẽ không thể ăn, uống, nuốt vài ngày sau cuộc giải phẫu thanh quản, nước biển được chuyền qua tĩnh mạch gọi là intravenous (IV) fluid, và dùng ống dẫn thức ăn chuyền qua mũi, miệng hoặc đặt ngay tại bụng. Khi sự sưng trướng giảm sút, và các mô lân cận trở lại bình thường, ống dẫn thức ăn sẽ được tháo bỏ. Việc nhai nuốt có thể khó khăn lúc đầu, bệnh nhân có thể cần sự giúp đỡ của y tá hoặc chuyên viên huấn luyện phát âm. Sau đó, bệnh nhân có thể ăn uống bình thường.
Nếu bệnh nhân cần ống dẫn thức ăn trên một tuần, bác sĩ có thể đặt ống dẫn tại bụng. Hầu hết mọi bệnh nhân đều ăn uống bình thường sau vài tuần, tuy nhiên một số bệnh nhân sẽ cần ống dẫn thức ăn suốt đời.
• Chất nhờn như đờm, rãi (mucus, sputum, nước miếng) do khí quản tạo ra rất nhiều sau cuộc giải phẫu, y tá sẽ dùng ống hút qua ống thở để nhẹ nhàng hút đờm và thông khí quản.
• Tê bại tại cổ, vai và cánh tay, tập vật lý trị liệu sẽ giúp cổ vai cử động và bớt tê bại.
• Thay đổi dung mạo: Tùy theo kích thước của vết mổ, vết thẹo có thể làm méo mó mặt hoặc cổ.
• Ống thở: Với cuộc giải phẫu cắt bỏ một phần thanh quản, sau một thời gian ngắn, ống thở sẽ được lấy ra và sụn cổ được vá lại, bệnh nhân sẽ thở và nói tương đối bình thường. Sau cuộc giải phẫu cắt bỏ cả thanh quản, sẽ phải dùng ống thở suốt đời, bệnh nhân sẽ cần luyện tập những cách phát âm mới. Xin xem thêm phần "Học cách phát âm mới".
Hóa chất trị liệu: Hóa chất có thể gây phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại và lượng hóa chất sử dụng. Nói chung, hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nên sẽ ảnh hưởng đến những tế bào tăng trưởng nhanh chóng:
- Tế bào máu: Khi hóa chất chữa ung thư hạ thấp số tế bào máu khỏe mạnh, bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng, bầm tím hoặc chảy máu dễ dàng, và mệt mỏi, mất sức. Bác sĩ cần thử máu để đo lường số tế bào máu. Khi lượng tế bào xuống thấp, bác sĩ có thể dùng thuốc kích thích tủy xương chế tạo tế bào mới nhanh chóng hơn hoặc sẽ được truyền máu.
- Tế bào bọc quanh chân tóc: Hóa chất gây rụng tóc. Tóc sẽ mọc trở lại sau khi chữa trị, tóc mới có thể khác màu hoặc thay đổi thể dạng.
- Tế bào lót các bộ phận tiêu hóa: Hoá chất có thể gây kém ăn, buồn nôn và ói mửa, tiêu chảy, lở miệng.
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.
Vết lở trong miệng hoặc khô miệng khiến việc ăn uống khó khăn, quý vị có thể dùng các món ăn lỏng để bồi bổ sức khỏe.
Đôi khi sau giải phẫu hoặc xạ trị, bệnh nhân có thể cần dùng ống truyền thức ăn, đây là một ống nhỏ, mềm nhuyễn, được đặt vào dạ dày qua một lỗ hổng tại bụng để dùng tạm thời. Khi cổ họng lành lặn, bác sĩ tháo bỏ ống.

Để bảo vệ các mô trong họng, nên:
- Tránh thức ăn cứng, nhọn như potato chip
- Tránh thức ăn cay nóng hoặc chứa nhiều acid như trái cây, nước trái cây
- Thức ăn nhiều đường sẽ gây sâu răng
- Rượu bia
Sống với ống thở
Tự chăm sóc sau khi mổ để chữa ung thư thanh quản là một sự thử thách. Nhóm chuyên viên trị liệu sẽ tận tình giúp đỡ bệnh nhân chóng hồi phục, trở lại đời sống hàng ngày càng sớm càng tốt.
Nếu quý vị có ống thở (stoma), quý vị sẽ được huấn luyện cách tự chăm sóc:
- Trước khi rời bệnh viện, quý vị sẽ học cách tháo rời và rửa sạch ống thở, tự hút đờm rãi và chăm sóc vùng da chung quanh ống thở.
- Khi không khí quá khô, như trong phòng có máy sưởi mùa đông, khí quản và phổi có thể tiết ra nhiều đờm rãi, và vùng da chung quanh ống thở sẽ khô rát. Hãy giữ da sạch sẽ và dùng máy duy trì độ ẩm (humidifier) trong nhà.
- Qua ống thở, nước có thể vào khí quản và phổi, đây là một việc rất nguy hại cho sức khỏe. . Bệnh nhân cần dùng một màng chắn chế tạo riêng cho ống thở hoặc dùng khăn mặt để che ống thở khi tắm rửa, có thể dùng khăn, cà vạt để phủ ống thở, giúp giữ độ ẩm và chắn bụi, khói bay vào ống thở, những vật che chắn này còn giúp chặn đờm rãi khỏi bắn ra ngoài khi ho hoặc nhảy mũi. Nhiều bệnh nhân dùng màng che để che ống thở.
- Khi cạo râu, quý vị cần nhớ rằng vùng da trên cằm, cổ sẽ bị tê dãi nhiều tháng, để tránh việc tự cắt cứa da, nên dùng máy cạo râu điện thay vì dao cạo.
Bệnh nhân với ống thở không thể nín thở, vì vậy làm những công việc nặng nhọc cần nín hơi sẽ rất khó khăn và cả việc bơi lội cũng như trượt nước đều rất khó khăn. Bệnh nhân gặp khó khăn về mặt tâm lý, hình dạng cách phát âm thay đổi, bất an về việc giao hợp..., sẽ cần bác sĩ tâm thần giúp đỡ.
Luyện tập cách phát âm (nói) mới
Nói năng là một phần cần thiết của đời sống, khi mất tiếng nói, bệnh nhân sẽ gặp khó khăn sau khi trị liệu. Trong khoảng 1 tuần hậu giải phẫu cắt bỏ một phần thanh quản, bệnh nhân có thể bắt đầu phát âm tương đối bình thường như trước. Sau cuộc giải phẫu cắt bỏ hoàn toàn thanh quản, bệnh nhân sẽ phải tập cách phát âm mới; chuyên viên về phát âm (speech therapist, speech pathologist) sẽ giải thích những phương pháp phát âm và bệnh nhân thường bắt đầu luyện tập phát âm trước khi về nhà. Cho đến khi có thể phát âm trở lại, quý vị cần diễn tả ý muốn của mình và sau đây là một vài cách diễn tả ý muốn:
Mang theo bên mình giấy bút
Dùng máy đánh chữ, máy điện toán, hoặc những dụng cụ điện tử khác. Chữ viết ký hiệu có thể in ra trên giấy, hiện trên màn hình, hoặc "đọc" bởi máy móc qua giọng nam hoặc nữ.
Mang theo bên mình một tự điển, một tập hình ảnh và dùng chữ hoặc hình ảnh cần thiết.
Viết chữ trên bảng đen, có thể xóa và sử dụng nhiều lần.
Nhóm chuyên viên chăm sóc có thể giúp quý vị học cách phát âm mới. Quý vị cần tập luyện và kiên nhẫn để học những kỹ thuật như "Nói bằng thực quản" hoặc "Nói bằng khí quản-thực quản" (tracheoesophageal puncture speech), và cũng có bệnh nhân không thành công như ý. Mức học hỏi nhanh chậm, cách phát âm có dễ hiểu hay không và tiếng nói có tự nhiên hay không tùy thuộc vào kích thước của khối u bị cắt bỏ.
Nói từ thực quản
Chuyên viên huấn luyện chỉ dẫn cho bệnh nhân cách đẩy không khí ra vào thực quản như khi ợ hơi. Không khí làm rung động cuống họng, tạo thành âm thanh. Lưỡi, hai môi và răng tạo thành tiếng nói khi âm thanh thoát ra khỏi miệng. Loại tiếng nói này thấp, khàn đục nhưng tự nhiên như tiếng người khác với loại tiếng nói tạo ra từ một thanh quản nhân tạo (mechanical larynx). Bệnh nhân không cần đến dụng cụ và hai tay được để trống.
Nói từ khí quản-thực quản" (tracheoesophageal puncture, TEP)
Bác sĩ cắt một khe hở giữa khí quản và thực quản, đặt vào một mảnh plastic hoặc silicone làm một cái van. Cái van này chặn thức ăn không cho vào khí quản. Khi dùng TEP, bệnh nhân dùng ngón tay che lỗ hổng ở ống thở, và đẩy không khí vào thực quản qua van này, không khí làm rung động cổ họng và tạo ra âm thanh. Tiếng nói qua TEP nghe gần như tiếng nói tự nhiên.
Tiếng nói nhân tạo (mechanical speech)
Trong khi tập những cách phát âm kể trên, bệnh nhân có dùng tiếng nói nhân tạo hoặc khi không thành công trong việc sử dụng một trong những cách phát âm trên. Dụng cụ chạy bằng pin (battery) gọi là electrolarynx, dụng cụ chạy bằng không khí gọi là pneumatic larynx.
Có nhiều loại dụng cụ và chuyên viên về phát âm sẽ giúp bệnh nhân chọn một dụng cụ thích hợp cũng như chỉ dẫn cách sử dụng dụng cụ này.
Có loại electrolarynx nhìn giống như một cái đèn pin, phát ra những âm thanh u u. Bệnh nhân áp vào cổ, âm thanh sẽ đi từ cổ đến miệng và giúp bệnh nhân tạo thành tiếng nói. Một loại dụng cụ khác có một ống plastic mềm chuyền âm thanh từ máy đến miệng. Có cả loại dụng cụ đặt trong miệng, cài vào răng và điều khiển bằng máy cầm tay (remote control).
Pneumatic larynx được đặt vào lỗ hổng ở cổ và dùng không khí từ phổi để làm rung động cuống họng, âm thanh được chuyền ra miệng bằng một ống plastic mỏng.
Theo dõi bệnh trạng hậu giải phẫu
Cần gặp bác sĩ thường xuyên để khám ống thở, cổ và cuống họng. Việc thăm bệnh định kỳ sẽ giúp bác sĩ tìm ra bệnh và chữa trị sớm. Đôi khi bác sĩ sẽ cần khám bệnh toàn diện, chụp quang tuyến. Sau xạ trị, bác sĩ sẽ cần khám xét thanh quản qua dụng cụ có tên laryngoscope.
Chữa trị ung thư thanh quản có thể ảnh hưởng đến tuyến giáp trạng, kết quả thử máu sẽ cho biết cơ thể tạo ra đủ lượng nội tiết tố giáp trạng hay không . Nếu thiếu, bệnh nhân dùng thêm nội tiết tố giáp trạng.
Bệnh nhân bị ung thư thanh quản thường bị loại ung thư khác cũng nằm trong vùng đầu & cổ, nhất là những bệnh nhân uống rượu nhiều và hút thuốc lá.
Những nguồn hỗ trợ
Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn hỗ trợ chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn hỗ trợ có thể bao gồm: Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng. Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
Những nhóm hỗ trợ: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm hỗ trợ này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.
Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình hỗ trợ, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất. Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu quả hơn.
Các chuyên gia đang thử nghiệm các hóa chất trị liệu. Họ tìm hiểu kiếm các loại thuốc mới, các cách dùng chung nhiều loại thuốc, và lượng thuốc mới. Ngoài ra các chuyên gia cũng tìm cách tiết giảm phản ứng phụ của việc trị liệu.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm lâm sàng: http://www.cancer.gov/clinicaltrials. Tại đây, ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư. Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: http://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: http://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.gov
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha. Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình. Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và bạn (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và bạn (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu bạn bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Hỗ trợ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
Tài liệu NIH 02-1568, tháng Năm, 2003

Bác sĩ Trần Lý Lê
Read more…